CÁC SỐ KHÁC
   + Số 259 (Tháng 9/2019)
   + Số 258 (Tháng 8/2019)
   + Số 257(Tháng 7/2019)
   + Số 256 (Tháng 6/2019)
   + Số 255 (Tháng 5/2019)
   + Số 254 (Tháng 4/2019)
   + Số 253 (Tháng 3/2019)
   + Số 252 (Tháng 1+2/2019)
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số 227 (Tháng 10/ 2016)
 
Vài nét về hoạt động ngư nghiệp Đà Nẵng (1954 - 1975) - Võ Hà

Nội hàm của kinh tế biển hiện nay khác xa (phong phú hơn) so với giai đoạn lịch sử trước đó. Đối với Đà Nẵng, kinh tế biển trong giai đoạn 1954 - 1975 thể hiện trên 3 hoạt động chính: khai thác hải sản (ngư nghiệp), kinh tế cảng Đà Nẵng và kinh tế đảo Hoàng Sa. Bài viết này đề cập vài nét hoạt động ngư nghiệp - một hoạt động chính của kinh tế biển Đà Nẵng trong giai đoạn này, ngõ hầu cung cấp thêm vài thông tin về truyền thống đánh bắt hải sản của địa phương trong một điều kiện chính trị - xã hội nhất định.

 

Sau khi Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống, ông đã có những chính sách trong phát triển kinh tế. Về ngư nghiệp, năm 1957, sau khi Ty Ngư nghiệp Đà Nẵng được thành lập đã hướng dẫn ngư dân động cơ hóa ngư thuyền, cải thiện ngư cụ, ngư pháp; nhờ đó, ngành ngư nghiệp Đà Nẵng có bước phát triển khả quan so với trước đó. Lúc này, Ty ngư nghiệp Đà Nẵng phụ trách liên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, sau đó tách riêng mỗi tỉnh có một Ty Ngư nghiệp. Sau biến cố 1964, trụ sở Ty bị đốt cháy, Bộ Tài chính Việt Nam Cộng hòa đã cấp cho Ty một công ốc tọa lạc tại đường Lý Thường Kiệt làm trụ sở. Tháng 10-1968, Ty Nông nghiệp Đà Nẵng được thành hình trên cơ sở sáp nhập các Ty Ngư nghiệp; Ty Mục súc; Chi Kiểm soát vệ sinh thảo mộc. Năm 1971, Ty Nông ngiệp này gồm có 4 ngành trực thuộc là ngành ngư nghiệp, ngành thú y chăn nuôi, ngành canh nông, ngành khuyến nông. Trụ sở Ty Nông nghiệp đặt tại 25 Nguyễn Thị Giang. Trụ sở Ngành Ngư nghiệp vẫn đóng riêng địa chỉ cũ trên đường Lý Thường Kiệt, để duy trì công ốc và thuận tiện liên lạc với ngư dân1.

Trong thời kỳ này, dường như nghề đánh cá đồng và nuôi cá của Đà Nẵng không phát triển. Đối với nghề đánh cá biển, trong giai đoạn này Đà Nẵng có 3 trung tâm ngư nghiệp là: Thiệu Bình, Thanh Hà Khê và Nam Thọ. Ba nơi này là nơi tập trung ghe thuyền đông nhất và là thị trường buôn bán hải sản hằng ngày, nơi quy tụ bạn hàng buôn cá xuất tỉnh dưới hình thức tươi hoặc hấp, kho, ướp nước đá (đi Quảng Nam hoặc Thừa Thiên).

Về các nghề khai thác hải sản, “chủ yếu là các loại hình giả cào, lưới năm (cảng), lưới hai, lưới trích, mành cơm, lưới cao, lưới quát, lưới rùng, câu giàn, rớ chồ... đặc biệt là nghề giả cào, nghề này ngư phủ khai thác được rất nhiều cá. Tại Thanh Hà Khê, hằng năm từ tháng 2 đến tháng 6 âm lịch ngư dân khai thác được rất nhiều cá chuồn2, ngư dân các tỉnh khác thường hay đến địa phương đánh”3. Trên thực tế, trước đó các loại ngư cụ đều dùng chỉ vải, chỉ gai, ngư thuyền buồm hoặc chèo tay với sức lao động. Nhờ đó việc thay đổi ngư cụ và kỹ thuật ngành ngư nghiệp Đà Nẵng có mức tiến triển rất khả quan, năng suất khai thác rất dồi dào.

Về ngư phủ, tính đến năm 1971, “tổng số ngư phủ của Đà Nẵng là 18.940 người. Đời sống ngư dân khá cao so với ngư dân toàn Vùng I kể từ khi được động cơ hóa ngư thuyền”4. Tuy nhiên, “trong sinh hoạt văn hóa, ngư dân Đà Nẵng thích sống theo tập quán cổ truyền, hay tin dị đoan, cúng lễ thần thánh, ý kiến rất bảo thủ. So sánh với các thành phần trong xã hội thì ngư dân thua sút rất nhiều, một phần bị thất học, vì hằng ngày bận rộn với công việc biển giã, ít đi đó đây, xem nhẹ sự học hành, họ quan niệm rằng làm có tiền nhiều là đủ mà thôi. Trong tổng số ngư phủ chỉ có một nửa chuyên nghiệp, số còn lại họ cũng hành nghề như còn có nghề phụ như: buôn bán, làm công”5.

Theo một điều tra năm 1971 về đời sống ngư dân Đà Nẵng cho biết: “Về tình hinh tài chính, ngư phủ có ghe lưới (chủ) không thiếu nợ 70%. Ngư phủ có ghe thiếu nợ 30%. Ngư phủ bạn (không thiếu nợ 90%). Ngư phủ thiếu nợ thường vay tiền của tư nhân hoặc của Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp địa phương để khuếch trương nghề nghiệp. Ngư phủ bạn không thiếu nợ nhờ có nghề phụ, mỗi khi trời động có thể đi làm thêm nghề khác. Hiện nay ngư phủ bạn rất khan hiếm nên rất được ưu đãi vì một số lớn phải thi hành quân dịch. Còn 10% thiếu nợ phần đông những ngư dân tản cư, đông con. Lợi tức trung bình hằng ngày mỗi người bạn được chừng 500 nghìn đồng”6. Về nhà cửa, “Nhà ngói: 40%. Nhà khang trang: 40%. Nhà tôle hay tranh: 20%. Ngư phủ mù chữ độ 30%, phần nhiều thuộc lứa có tuổi (45 trở lên). Ngư phủ biết đọc, biết viết độ 60%. Ngư phủ có bằng Tiểu học 10%. Ngư phủ đa số hành nghề biển, nên có khả năng chuyên môn về đánh cá và có thể sử dụng thủy động cơ từ 5 mã lực đến 120 mã lực, ngoài ra còn có một số ít có khả năng sửa chữa thủy động cơ mỗi khi hư hỏng, có thể chiếm đến 70%”7. Về tình hình ngư thuyền, “Thuyền không gắn động cơ: Trọng tải dưới 2 tấn: 740 chiếc. Trọng tải từ 2T đến 4T9: 169 chiếc. Trọng tải từ 5T đến 19T9: 61 chiếc. Cộng: 970 chiếc. Thuyền gắn động cơ: Trọng tải dưới 2 tấn: 703 chiếc. Trọng tải từ 2 tấn đến 4,9 tấn: 319 chiếc. Trọng tải từ 5 tấn đến 19,9 tấn: 843 chiếc. Trọng tải từ 19,9 tấn  đến 25 tấn: 238 chiếc. Cộng: 2.103 chiếc”8. Như vậy, có hai loại thuyền là gắn động cơ và không gắn động cơ tương ứng với hoạt động ven bờ và xa bờ. Theo đó, về sản lượng thâu hoạch, “mùa chính từ tháng hai (âm lịch) đến tháng 8 (âm lịch) tính trung bình khai thác được: 24.000 tấn. Mùa phụ từ tháng 9 (âm lịch) đến tháng giêng (âm lịch) tính trung bình khai thác được 10.000 tấn”9. Hải sản chính như cá thu, ngừ, bẹ, hố, chim, thiều, tôm, mực... Ngoài ra, còn có rong biển và mác, 2 loại này ngư dân khai thác rất ít, vì chung quanh bán đảo Tiên Sa bị phong tỏa vì lợi ích quân sự.

Trong hậu cần kỹ thuật, từ năm 1954 đến 1969, Đà Nẵng chỉ có một bến cá tại bờ sông Bạch Đằng, nhưng sau đó được trưng dụng làm bến phà cho hải quân Mỹ từ năm 1965. Từ đó, ngư dân phải cho tàu cập bến tại một bến cá tạm. Năm 1969, trong chương trình dài hạn của thị xã Đà Nẵng có chương trình thiết lập ngư cảng Đà Nẵng. Trong lý do thiết lập cho biết, “dân số thị xã hiện nay đã lên đến 365.000 người, nếu cộng thêm số quân nhân đồn trú tại Đà Nẵng và khoảng 100.000 người ở vùng phụ cận thì số người tiêu thụ hải sản lên đến trên 500.000 người, tương lai có thể lên đến 600.000 người. Số ngư sản cần thiết mỗi ngày 150 tấn, hiện nay ngư dân mới thu hoạch được 65 tấn mỗi ngày, cần phải thu hoạch thêm 85 tấn mỗi ngày nữa”10. Theo đó, địa điểm được thiết lập là khu đất rộng khoảng 18,2 ha nằm về phía tây bắc khu phố Thiệu Bình. Vị trí này gần cửa biển, không xa thành phố, cách hai chợ lớn nhất của Đà Nẵng là chợ Hàn và chợ Cồn khoảng 2 km, gần các xóm chài lưới, gần đường hỏa xa và đường cái, rất thuận tiện cho ngư dân đi lại làm ăn. “Tổng kinh phí dự trù thiết lập ngư cảng là 1.100.000.000 đồng, sẽ thực hiện trong 3 năm và chia làm 3 đợt”11. “Dự án thiết lập ngư cảng nếu được thực hiện sớm sẽ nâng cao mức sống cho 365.000 dân chúng tại Thị xã, nhất là giúp cho gần 25.000 ngư dân có phương tiện phát triển nghề nghiệp, đồng thời sẽ đem đến sự phồn thịnh chung cho các ngành phụ thuộc như kỹ nghệ lạnh, đóng tàu và sửa chữa tàu và máy móc thủy động cơ”12. Tuy nhiên, trên thực tế dự án này cũng bị bỏ dỡ, chỉ thực hiện được một phần.

Năm 1971, “Đà Nẵng có 3 bến cá chính: Thiệu Bình, Thanh - Hà Khê và Nam Thọ. Bến cá Thiệu Bình choán một diện tích 5.800 mét vuông (kể cả trên bờ và dưới nước) có xây 5 đình cá, 1 ao cá (1 đình dài 30m x 8, 4 đình 15m x 8), ngân khoản của Thị xã đài thọ 1.000.000$ ngân sách Bình định Phát triển 1.600.000$. Bến cá Thiệu Bình rất tiện lợi cho việc buôn bán hải sản. Hai bến cá Nam Thọ và Thanh Hà Khê nằm sát biển (bãi ngang), không có kiến trúc, hai bến này cũng tiện lợi cho việc buôn bán, nhưng bất tiện cho ghe thuyền đậu mỗi khi gặp gió bão. Về chợ cá, gồm có 3 chợ là: Mân Quang, Thanh Khê và Xuân Đáng đều do Ngân sách Bình định Phát triển đài thọ, đường giao thông cũng tiện lợi vì gần đường lộ, sát biển. Việc buôn bán vẫn theo tập tục cổ truyền, không bán bằng kí mà chỉ bán bằng rổ, mớ, két gỗ, có tính cách phỏng chừng”13.

Về đóng thuyền, năm 1971, Đà Nẵng có “5 xưởng đóng ngư thuyền bằng gỗ, gỗ mua từ Bình Tuy hoặc Pleiku đem về, gỗ ở các Tỉnh này rẻ hơn gỗ Huế, khả năng một xưởng có thể đóng được 4, 5 vỏ thuyền (gắn động cơ từ 30 mã lực trở lên) một tháng. 5 xưởng sửa chữa thủy động cơ, tuy rằng chưa được trang bị đầy đủ phương tiện sửa chữa, nhưng cũng tạm thỏa mãn nhu cầu sửa chữa và thay thế các bộ phận rời bị hư hỏng. Ngư thuyền các Tỉnh lân cận thường đem về Đà Nẵng sửa chữa. Xưởng dệt lưới không có, nhưng các nhà buôn lưới đều bày bán đầy đủ”14.

Đi cùng với đó, Đà Nẵng có một Hợp tác xã với danh xưng là Hợp tác xã Ngư nghiệp Đà Nẵng. Mặc dầu được phép hoạt động từ năm 1965, nhưng trên thực tế dường như không hoạt động được vì thiếu nhân viên Ban quản trị. Hơn nữa, “hợp tác xã này không có tính cách độc lập, lại nằm trong Nghiệp đoàn ngư nghiệp. Việc mua bán hải sản tại địa phương không có đầu nậu (ngoài trừ các ghe ngoại tỉnh đến hành nghề và bán cá tại đây) chỉ mua đi bán lại ngay tại bến cá hoặc tại chợ mà thôi. Sản lượng tiêu thụ tại Thị xã: 30.000 tấn mỗi năm. Xuất tỉnh trung bình: 3.000 tấn”15. Vào năm 1970, Nha Ngư nghiệp thành lập một Ủy ban tư vấn ngư nghiệp gồm đủ mọi thành phần các loại nghề, Ủy ban này cũng rất có lợi khi tham khảo ý kiến về ngư nghiệp tại địa phương. Tại các khu phố ven biển, ngư dân đều có thành lập “vạn” để tương trợ lẫn nhau và lo cúng tế, cầu ngư khi cần. Ngư dân tại địa phương chưa tổ chức quỹ cứu trợ và quỹ xã hội, tương tế.

Gắn liền với khai thác hải sản, trong hoạt động tiểu thủ công nghiệp có nghề chế biến nước mắm. Trên thực tế, “chỉ làm có tính cách gia đình mà thôi vì lẽ loại cá để làm nước mắm quá cao, loại cá này ngư dân khai thác không được dồi dào vì ảnh hưởng các vùng bị cấm, nên không cạnh tranh nổi với nước mắm nhập Tỉnh của Phan Thiết. Kỹ nghệ chế biến không có. Đặc biệt tại địa phương có mắm cá chuồn thính, mức sản xuất trung bình 1.500 tấn mỗi năm. Loại mắm này mùa đông mới tiêu thụ không những cho Đà Nẵng mà còn xuất tỉnh đi Quảng Trị, Thừa Thiên và Quảng Nam”16. Lúc này, Đà Nẵng với dân số gần 500.000 người nên mức tiêu thụ hải sản rất mạnh. Riêng làng nước mắm Nam Ô có truyền thống lâu đời, nhưng trong giai đoạn này cũng không phát huy được mặc dù năm 1953 có thành lập Công ty nước mắm Nam Ô.

Có thể thấy, trước tình hình ngư nghiệp tại Đà Nẵng có tiến triển nhưng năng suất chưa được tận dụng khai thác. Trên thực tế vì tình hình an ninh, khả năng chuyên môn hướng dẫn ngư dân đánh cá viễn duyên, cận duyên. Do đó, bước vào các năm 1972-1975, chính quyền Đà Nẵng chủ trương “khuyến khích, hướng dẫn, gia tăng ngư thuyền động cơ cỡ lớn bằng cách: giúp vốn cho vay. Nhập cảng dồi dào thủy động cơ, ngư cụ bán trực tiếp cho ngư dân với giá cả phải chăng (miễn thuế nhập nội). Hướng dẫn kỹ thuật cho ngư dân về: ngư thuyền cũng như cách trang bị ngư cụ cùng dụng cụ khoa học để đánh cá. Mở những lớp huấn luyện bảo trì thủy động cơ trung cấp hoặc khuyến khích các nhà bán thủy động cơ thiết lập một xưởng sửa chữa thủy động cơ (tân trang) có đầy đủ tiện nghi sửa chữa cho ngư dân. Nghiên cứu hải phận để tìm ngư trường tốt lập hải đồ, huấn luyện cách đánh cá cận duyên, viễn duyên theo đà các nước tân tiến. Khuyến khích tư nhân đầu tư để kỹ nghệ hóa ngư nghiệp như kỹ nghệ lạnh, đóng đồ hộp, kỹ nghệ làm nước mắm, bột cá”17.

Tuy nhiên, trong thời gian này, tình hình chiến sự đã không cho phép chính quyền thị xã Đà Nẵng thực hiện kế hoạch đề ra, ngư nghiệp vẫn ì ạch, không phát triển được. “Vì ảnh hưởng chiến tranh, môi trường và thời gian hoạt động của ngư nghiệp bị hạn chế, tâm lý chung của ngư dân chưa muốn dốc toàn lực khả năng và phương tiện vào việc khuyếch trương nghề nghiệp, vì sợ tình thế không cho phép. Tuy rằng, so với những năm về trước, ngành ngư nghiệp Đà Nẵng có tiến, nhưng còn trong trạng thái tiêu cực, làm để giải quyết sự sống hằng ngày thôi, chứ chưa nhắm mục tiêu trường cửu. Hầu hết ngư cụ, máy móc đều dùng của ngoại quốc, hiện trên thị trường khan hiếm, đó là mối lo lắng nhất của ngư dân địa phương. Cho nên ngành ngư nghiệp hoạt động hiện nay chỉ có tính cách vay mướn. Tiếng nói ngư nghiệp tại địa phương bị hạn chế kể từ khi Ty Ngư nghiệp sáp nhập với các Ty khác thành Ty Nông nghiệp và tầm quan trọng của Ngành này bị lu mờ dần, trên thực tế đã chứng minh điều đó”18.

Tóm lại, hoạt đông ngư nghiệp Đà Nẵng trong giai đoạn này mặc dù chính quyền Việt Nam Cộng hòa có nhiều chính sách để phát triển, nhưng tình hình chiến tranh đã không cho phép hoạt động này phát triển theo tiềm năng vốn có. Bởi vậy, để phát triển kinh tế biển, nhất là hoạt động khai thác hải sản xa bờ cần một môi trường hòa bình, ổn định thì mới mong ngành này phát triển. Nhìn lại lịch sử để thấy rằng, hiện nay Đảng và Nhà nước ta có chiến lược phát triển kinh tế biển, tạo điều kiện cho ngư dân vươn khơi, bám biển nhưng bên cạnh đó vẫn cần một sự bảo đảm về an ninh nói chung là điều rất cần thiết.

 

1 Tòa Thị chính Đà Nẵng tổ chức theo sơ đồ như sau: Các Ty, Sở ngoại Tòa gồm có: Ty Cảnh sát Quốc gia, Ty Thông tin, Ty Tiểu học, Ty Công chánh, Ty Kiến thiết, Ty Y tế, Ty Điền địa, Ty Nông nghiệp, Ty Thanh niên, Ty Thuế vụ, Ty Trước bạ, Ty Ngân khố, Ty Phát triển Sắc tộc, Ty Xã hội và Tỵ nạn Cộng sản, Ty Chiêu hồi, Ty Thủy lâm, Ty Bưu điện, Ty Quan thuế, Ty Khí tượng, Thị đoàn, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp, Tòa án Sơ thẩm.

2 Loại cá này có thể tiêu thụ tươi hoặc làm mắm thính.

3 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng, 1971, Hồ sơ 159, Phông Nha Ngư nghiệp, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

4 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

5 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

6 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

7 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

8 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

9 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

10 Các dự án công tác ngắn hạn và dài hạn của thị xã Đà Nẵng 1969-1971, Hồ sơ 219, Phông ĐII-CH, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. 

11 Các dự án công tác ngắn hạn và dài hạn của thị xã Đà Nẵng 1969-1971: tlđd.

12 Các dự án công tác ngắn hạn và dài hạn của thị xã Đà Nẵng 1969-1971: tlđd.

13 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

14 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

15 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

16 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

17 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

18 Địa phương chí ngư nghiệp thị xã Đà Nẵng: tlđd.

 V.H

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com