CÁC SỐ KHÁC
   + Số 263 (Xuân Canh Tý 2020)
   + Số 262 (Tháng 12/2019)
   + Số 261 (Tháng 11/2019)
   + Số 260 (Tháng 10/2019)
   + Số 259 (Tháng 9/2019)
   + Số 258 (Tháng 8/2019)
   + Số 257(Tháng 7/2019)
   + Số 256 (Tháng 6/2019)
   + Số 255 (Tháng 5/2019)
   + Số 254 (Tháng 4/2019)
   + Số 253 (Tháng 3/2019)
   + Số 252 (Tháng 1+2/2019)
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số 189 (Tháng 8/ 2013)
 
Bản mệnh thơ Bùi Giáng - Hồ Thế Hà

Bùi Giáng thi sĩ là hiện tượng lạ của nền thơ Việt Namhậu bán thế kỷ XX bởi sự tích hợp nghệ thuật kỳ bí song hành với cuộc đời kỳ dị, được công chúng yêu thơ mến mộ, truyền tụng và thêu dệt như những giai thoại, đến một ngưỡng nào đó, được xem như huyền thoại. Gồm hơn 60 tác phẩm hiện tồn, Bùi Giáng đã để lại cho đời một di sản văn chương đồ sộ, đa dạng và mang phẩm tính triết thuật cao diệu, cả trong thơ, khảo cứu và dịch thuật. Từ cuộc đời đến trang sách, thơ Bùi Giáng luôn là nghệ thuật phản quang, là âm bản của tình cảm, tư tưởng, triết mỹ của chính ông trong từng chặng hành trình cuộc sống, làm thành bản mệnh đời – bản mệnh thơ Bùi Giáng.

Nghiên cứu về thơ Bùi Giáng, ngày càng có nhiều công trình công phu và thành tựu ra mắt bạn đọc. Nhưng với một cuộc đời đa dạng và một tài năng thơ đa diện và đa chất như ông, thì không phải mọi kết luận đều đã thống nhất và bình ổn. Vì vậy, sự vẫy gọi từ thế giới thi ca của Bùi Giáng vẫn là khả tính cho những ai quan tâm và muốn đi tìm bản thể cuộc đời và bản mệnh nghệ thuật của thi sĩ tài năng dị biệt này, đúng như nhà văn Sơn Nam đã tâm sự: "Viết đôi lời về Bùi Giáng không bằng đọc về Bùi Giáng. Đọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng. Giao du với Bùi Giáng không bằng sống như Bùi Giáng. Mà sống như Bùi Giáng thật vui mà thật khó vậy. Ông thuộc vào loại thiên tài không định nghĩa được, là một bí ẩn toàn diện trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái nửa không nửa có nửa hư nửa thực" (2, tr.166). Trong bài viết ngắn này, tôi muốn đề cập đến một phương diện trong chỉnh thể Đời và Thơ của ông mà tôi tạm gọi là bản mệnh thơ Bùi Giáng.

Những nghịch lý trong sáng tạo nghệ thuật của Bùi Giáng đã làm thành tổng hòa của sự hội tụ chứ không phải là sự phân hóa thi pháp thơ. Nhưng cũng vì vậy mà trong cái bông đùa, cà rỡn có sự thăng hoa của đau xót miên trường; trong cái hồn nhiên có sự uyên uẩn, nhức nhối của trí tuệ; trong điên loạn, cuồng say có sự mộng mơ và mê đắm của cõi tình. Tất cả những nghịch lý trên chính là tâm thức hiện sinh của Bùi Giáng trên từng chặng hành trình sống và hành trình thơ. Tìm hiểu bản mệnh thơ Bùi Giáng, theo tôi, phải tính đến sự cộng hưởng thi pháp rất riêng này của ông.

 

1. Từ quan niệm văn chương của Bùi Giáng

Là nhà thơ và là nhà tư tưởng uyên bác, Bùi Giáng đã xuất phát từ quan niệm nào cho tư duy nghệ thuật của mình? Bằng những trang dịch, trang thơ và những tuyên ngôn giàu tính hình tượng, ta thấy Bùi Giáng luôn có ý hướng tính phóng thể văn chương rất rõ. Ông nói: "Thơ tôi làm chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm giông bão một lúc thì lập tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức... Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi... Tôi ra bờ sông nằm ngủ, khóc một mình giữa thơ dại chiêm bao. Trong chiêm bao, thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao” (1, tr.33). Thế giới thơ ông chính là triển khai một cách hình tượng cho quan niệm trên. Có lúc, ông nói "thơ là cõi phiêu bồng" thì cũng là kết tinh của chiêm bao lãng đãng đó mà thôi. Thơ là hàm ngôn, nhưng có lúc lại vô ngôn, nhưng là vô ngôn của sự bừng ngộ về tư tưởng nhân sinh như Bùi Giáng luận lý: "Cái nói của tư tưởng chỉ đạt tới chỗ bình hoa thanh tịnh thuần thanh và tìm thấy lại tinh thể của mình là chính lúc nó không nói được điều gì, nó phải tồn tại trong vô ngôn, một sự vô năng như thế sẽ nhiếp dẫn tư tưởng tới tiền diện sự thế, sự vật từ như" (6,  tr.36). Vậy, Bùi Giáng, dù có tuyên ngôn đa dạng và đa niệm thế nào đi nữa, thì theo ông, thơ là cõi huyền nhiệm, kỳ bí đến bát ngát, mênh mông của tâm tưởng và tư tưởng mà chỉ có loài thi sĩ mới đạt đến và đem thông điệp cho người đời cùng ngẫm nghĩ. Trong cõi vô thức và tiềm thức đem trộn với ý thức để cho ngôn từ chảy tràn ra thành những siêu thăng của cảm xúc và tâm trạng thì khi đó, thơ sẽ tiền diện được với tại - thể - người như M. Heidegger đã triết lý. Đó chính là quan niệm thi ca cốt lõi của Bùi Giáng mà thơ ông là minh định cho triết – mỹ rất riêng ấy của ông. Thơ Bùi Giáng siêu thăng mà gần gũi, hòa nhập với hiện thể thiên nhiên và cuộc sống biết bao! Người đọc cũng phải xuất phát từ cõi vô thức, tiềm thức ấy và nhập vào thế giới ấy để đối thoại, tự thoại thì mới mong hiểu và đồng cảm với thơ ông. Nhưng điều ấy không phải dễ dàng đối với mọi chủ thể tiếp nhận, vì thơ ông quá ư đa dạng và đa ngôn, luôn biến ảo, "khả giải bất khả giải". Ông nói: "Đi vào cõi thơ. Thế nghĩa là? Có một cõi và một cuộc đi, cuộc đi có nhiều thế thái. Có thể theo lối chu du của ông Khổng Tử. Có thể đi theo lối ngồi yên không rục rịch suốt bao diên trường tuế nguyệt dưới một gốc cây bồ đề theo lối Như Lai. Cũng có thể đi theo lối anh lùa bò vào đồi sim trái chín. Đi như vậy dù sao thì dù, cũng là trong ý hướng mở cõi ra chơi. Không ai buộc ai phải theo ý riêng, độc đoán của ai... Đó là điều kiện cần và đủ, không buộc ai phải đi qua miên bạc bình sinh" (2, tr.482). Quan niệm về tiếp nhận văn học như trên của Bùi Giáng rất gần với Mỹ học tiếp nhận hiện đại phương Tây, trong đó có Tường giải học văn họcThông diễn học văn học mà nhất định Bùi Giáng có quán triệt từ vốn đọc qua vốn ngoại ngữ của mình. Mối quan hệ bộ ba: Tác giả - Tác phẩm - Người đọc theo quan niệm của Bùi Giáng đã mở ra những chân trời vẫy gọi cho liên chủ thể tiếp nhận để đồng sáng tạo, làm đầy nghĩa cho tác phẩm, theo từng cách đọc, từng "tầm đón đợi" của mỗi cá nhân.

Từ những quan niệm văn chương như trên, cộng vào quan niệm về nhà thơ của ông, có thể thấy rằng Bùi Giáng là một thi sĩ biệt tài quá ngưỡng và có ý thức nghệ thuật độc đáo, không xa lạ với kim - cổ - Đông - Tây, nhưng cũng không giống ai về lập ngôn, lập tượng và lập thức, khi ông muốn suốt đời tận hiến cho thơ: "Có bạn ngớ ngẩn tưởng rằng thi sĩ ngớ ngẩn. Quả là thi sĩ có ngớ ngẩn nhưng ngớ ngẩn với lá cỏ lá cây, lá lau lá lách cũng như sẵn sàng tích hạp ẩn tàng phơi mở với la de, rượu đế, tàu bay, tàu lặn, tàu ngầm. Nghĩa là nó ngơ ngẩn chan hòa trên mặt đất - và nó ghì thân ở lại vô thường để chị chơi gay cấn hơn là đáo bỉ ngạn (bà là mật kim cương) – và cũng chính vì thế nó thể hội viên dung ba la mật hơn mấy ông trụ trì thượng tọa nữa là khác. Nó chỉ chìm đắm trầm luân mới thể nghiệm sao gọi là chơi vơi, phiêu nhiên giải thoát" (3, tr.23). Như vây, thi sĩ không phải là người điên bệnh lý mà là người biệt nhãn và nhạy cảm mỹ học và tư tưởng với chung quanh hơn người thường rất nhiều. Và chính điều này đã giúp thi sĩ vươn đến sự phóng thể thi ca một cách nghệ thuật. Bùi Giáng là người tận hiến cho thơ đến cùng hiểu theo nghĩa đó. Thơ ông là "tinh hoa phát tiết" từ những trạng thái tình cảm tự nhiên của mình, không bắt chước và không giống ai. Nó là nguyên mộng, nguyên xuân, tức là cái đẹp nguyên sơ không toan tính gì khác ngoài ước nguyền phụng hiến. Muốn tìm về nguyên xuân, thơ phải nói "lời cố quận". Ông học và tự thể hiện cách viết "tự động tâm linh". Những mộng mơ, chiêm cảm, ảo giác là kết quả của chiêm bao và biến thành ngôn ngữ: "Đi về với gió phù du – Mở trang mộng mị cho mù sa bay". Thơ ông vì vậy, tuôn trào tự do theo dòng cảm xúc, không tuân thủ ngữ pháp, nó là ý thức nhưng cũng là vô thức mà kết quả là ông có được những câu thơ hay, bài thơ hay.

                                    Ta gọi chiêm bao về mộng mị

                                    Chắp ân tình cho nghĩa rộng tinh sương

                                    Về tuế nguyệt bước ngao du tận mỵ

                                    Người có nghe tang hải réo vô thường?

            Thơ Bùi Giáng là sự hóa giải, hòa kết giữa những trạng thái hoặc tính chất tương hỗ và đối lập nhau để tạo ra sự tích hợp kỳ lạ của hình tượng và ngôn ngữ. Ví như bài thơ Bây giờ: "Bằng bút chì đen – Tôi chép bài thơ – Trên tường vôi trắng – Bằng bút chì trắng – Tôi chép bài thơ – Trên lá lục hồng – Bằng cục than hồng – Tôi đốt bài thơ – Từng giờ từng phút – Tôi cười tôi khóc bâng quơ – Người nghe cười khóc có ngờ chi không?".

            Thơ Bùi Giáng mang tâm thức hiện sinh rất rõ, bởi ông là người hiểu và dịch triết hiện sinh phương Tây sang tiếng Việt theo kiểu tư tưởng – triết thi. Những  nghi vấn và hoài nghi có tính bản thể người luôn hiện diện trong thơ Bùi Giáng, kiểu như: "Em từ vô tận xa xăm - Trùng lai chất vấn: từ trăm năm nào?". Thực và mộng đan xen, làm cho cấu trúc thơ trở nên linh diệu và mơ màng. Vì vậy, có người cho rằng hiện thực trong thơ Bùi Giáng là hiện thực của "diệu tưởng" và "nghi tâm" là thế. Tư tưởng hiện đại trong thơ Bùi Giáng pha hợp nhiều nguồn, có định mệnh của Phật giáo, có Thiền, có hiện sinh, có phân tâm học, có tượng trưng, siêu thực... qua hệ thống ngôn ngữ cũng biến ảo, huyễn hoặc, tạo thành thể tính thi ca, bản mệnh thi ca rất riêng của Bùi Giáng.

            Và một quan niệm có ảnh hưởng rất rõ trong thơ Bùi Giáng, đó là khi ông xem thân phận con người nằm trong "tinh thể Đười Ươi". Vì vậy mà ông phát hiện ra Phật tính trong hình hài Đười Ươi của Người – của chính tôi. Nên ông có bút danh Đười Ươi thi sĩ là vậy.

                                    Thoạt rằng người cũng là tôi

                                    Hay là tôi cũng là tôi như người

                                    Ấy rằng tinh thể đười ươi

                                    Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và

                                    Ấy rằng một cũng là ba

                                    Là hai mai một mốt là hôm nay

            Thơ Bùi Giáng dìu con người vào "cõi phiêu bồng" có hoa thơm, mật ngọt nhưng cũng ba đào, cay đắng, nhưng cao hơn tất cả, đó là lòng nhân ái, bao dung, phụng hiến cho đời, cho thơ trong một thế giới thái hòa, an lạc.

                                    Còn ở lại một ngày còn yêu mãi

Còn một đêm còn thở với trăng sao

Thì cánh mộng còn tung lên không ngại

Níu trời xanh tay với kiễng chân cao

            Với những quan niệm thơ như thế, Bùi Giáng đã đi trọn hành trình đau thương và hạnh phúc để còn đây những mật ngọt thi ca phụng hiến cho đời, "dìu ba đào " về những chân trời khát vọng thi ca – không phải chỉ cho mình mà còn cho tha nhân cõi thế.

 

            2. Đến tư duy nghệ thuật thơ Bùi Giáng

            Quan niệm thơ và hành trình sáng tạo luôn tác động, hỗ tương và làm thành thi pháp cá nhân của thi sĩ, có ổn định, lặp lại nhưng cũng có biến đổi, cách tân. Thế giới nghệ thuật thơ Bùi Giáng chính là sự vận động và phát triển như thế. Bao gồm 15 tập thơ được xuất bản, từ Mưa nguồn (1962) đến Trúc mai (2008), Bùi Giáng đã đi trọn hành trình đời và hành trình thơ đau thương, bất hạnh nhưng cũng đầy vinh quang, hạnh phúc, làm thành bản mệnh đời và bản mệnh thơ của riêng ông.

            Cái tôi trữ tình ngôi thứ nhất là tác giả luôn hiện hữu trong thơ, làm thành điểm nhìn nghệ thuật đa dạng trong thơ Bùi Giáng. Trước hết, là cái tôi trải lòng giao hòa với thiên nhiên, cuộc sống mà ông cho là nó có liên quan với khởi nguyên, cõi tĩnh mật ban đầu. Nó là cõi vô biên nhưng gần gũi với con người mà thi sĩ coi đó là ngôi nhà tâm hồn vĩnh cửu của mình.

                                    Mây đứng lại chân trời phủ khói

                                    Giòng sông đi đò bến đợi ngu ngơ

                                    Chiều trời đẹp tâm tình em không nói

                                    Đất với trời chung một nghĩa bơ vơ

Khi con người bất lực và buồn chán thì thiên nhiên là nguồn an ủi. Mưa nguồn – tên tập thơ đầu tiên có một ý nghĩa mưa móc suối nguồn chảy vào tâm hồn mát ngọt hương yêu của chính người thơ để thành thi cảm và thi tứ chăng? Ở đấy, thiên nhiên với con người có sự giao hòa kỳ diệu giữa hiện tại, qúa khứ và tương lai.

                                    Gió trăng sông núi đợi ta

                                    Chờ sương nhị nguyệt màu hoa dâng mùa

                                    Một mình vào núi đợi mưa

                                    Đợi nghe chớp biển xế trưa mưa nguồn

            Thiên nhiên luôn rộng mở, bao la không bờ bến để con người ngao du từ sơn thủy diện tiền đến chân trời xa ngút ngát.

                                    Mưa có tạnh nhưng chân trời còn mãi     

                                    Những giọt sương là lệ ở trong mây

                                    Dòng sông đi cho nước nói ngàn ngày    

                                    Rằng biển rộng không bến bờ em ạ!

            Con người chan hòa cùng hoa lá, chim muông trong vườn thắm xanh tươi sự sống. Nhờ vậy mà con người đỡ bất lực trước chính mình. Một cảm thức hiện sinh mới lại bắt đầu.

Chạy đi em, qua vườn thắm theo ngày

Cùng với phút giây này phơi mở lá

Em ngó nhé cành xanh cây giục giã

Hoa nghiêng đầu ríu rít cạnh chim kêu

            Thiên nhiên gắn bó sâu nặng với con người như hành trang từ nguồn đến đích để "Mai sau còn dự hội nào – Ngó nhau từ kỷ niệm đầu bão giông". Tận cùng ngây ngất của tình yêu hoa cỏ là một tự nguyện chan hòa, chia sẻ: "Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa – Anh thấy lòng mở rộng đón trời xa – Chìm ngây ngất vào trong đôi mắt lá – Anh lim dim cho chết lịm hồn mình". Ở đó, thi sĩ đã lùa bò vào đồi sim trái chín để được như Tô Vũ ngày xưa hòa mình vào thiên nhiên hoang dại mà tận hưởng suối nguồn cuộc sống.

                                    Và giờ đây một lời thề đã thốt

                                    Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta

                                    Cao lời ca bê hê em cùng thốt

                                    Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha

            Có một hình tượng lặp đi lặp lại trong thơ Bùi Giáng, đó là "cố quận", nơi ông sinh ra và lớn lên, nơi ông có những rung cảm đầu đời trong chia biệt mù sương: "Lên mù sương xuống mù sương – Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu – Tuổi thơ em có buồn nhiều –Thì xin cứ để bóng chiều bay qua – Bể dâu sực tỉnh giang hà – Con sơ nguyên mộng sau tà áo xanh".Vì vậy mà cố hương không bao giờ xao nhãng trong tâm hồn thi sĩ, ngay cả trong chiêm bao, mộng mị.

                                    Ngày về tôi sẽ nhận ra

                                    Em là cố quận tôi là tha hương

                                    Tôi tìm kiếm khắp nẻo đường

                                    Đường quanh lối thẳng dặm trường chiêm bao

Bùi Giáng có cảm thức giống như Xuân Diệu, ông chọn mùa xuân làm nguyên khởi cho thời gian, cho bí ẩn tinh khôi của cõi lòng mà ông gọi là Nguyên xuân, Nguyên mộng. Trong Mưa nguồn, Bùi Giáng hướng nguồn thơ của mình vào những gì tin yêu, tươi đẹp và rạo rực nhất, nên mùa xuân tràn ngập trong thơ cũng là logic của tình cảm dẫn đến thi ca vậy: "Mùa xuân, mùa xuân hiển hiện, lung linh ánh sáng, long lanh thanh sắc – Trong niềm hoan lạc của đất trời, vì tin ở sự tuần hoàn miên viễn, như tin vào một cánh én: Én đầu xuân tuyết đầu đông – Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa".  

Bài thơ Nắng nguyên đán sáng tác sau này chính là sự níu kéo tâm thức non tươi, khát vọng ấy như một cố gắng đi tìm lại thời gian hiện sinh đã mất của chủ thể lẫn khách thể.

                                    Chạy đi em, nắng gió bốn chân trời

                                    Về chân đất dưới chân em mọc cỏ

                                    Nắng Nguyên Đán lục lam hay hồng đỏ

                                    Tía vi vu hồng lục cũng bao hàm

                                    Chạy đi em! sương gió nắng thênh thang

                                    Trời đất đẹp từ bình minh vũ trụ

                                    Nắng Nguyên Đán của nguyên xuân đầy đủ

                                    Cỏ hoa hương chồi nhú lộc miên man

                                    Nắng xuân xanh mở cỏ mọc hai hàng

                                    Và riêng mở duy Một Hàng Ẩn Mật

                                    Nắng phơ phất vì sắc hương phơ phất

                                    Dưới khung trời mặt đất mở thênh thang

                                    Chạy đi em, gót ngọc bỏ hai hàng.

            Và ít nhất trong tâm tưởng của Bùi Giáng, mùa xuân sẽ tuần hoàn trong đam luyến với những gì còn lại để tin yêu và hoài vọng: "Mùa xuân hẹn Thu về em trở lại – Ta nhìn nhau trong bóng nước mơ màng – Nước chảy mãi bởi vì xuân trở lại – Với dòng trong em hẹn ở bên đường". Dẫu điệp khúc ái ân, có lúc làm cho thi nhân nghi hoặc sự chia lìa, nhòa nhạt trong thực tại, thì thơ chính là nơi lưu giữ nguồn xanh yêu bất tuyệt, hoang vu chất ngất non hồng.

                                    Mùa xuân hẹn Thu về em trở lại

                                    Bên đời đi còn giữ mãi hay không

                                    Giọng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại

                                    Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng.

            Nhưng có một thực tế, Bùi Giáng là người tha hương, sầu xứ đến ám ảnh. Ông mong ngày trở lại "cố quận", nhưng sao cứ tăm cá mịt mùng. Những giấc mơ vô thức không làm ông thỏa mãn nỗi nhớ mong ngày trùng phùng dâu bể: "Thời gian gội trắng một đời - Trông về quê cũ bạt ngàn mây tuôn". Trong ông, những địa danh thân yêu Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Vĩnh Trinh, Lệ Trạch, Lai Châu, Thì Lai, Hà Mật...vẫn nguyên trong ký ức mây mù gần nửa thế kỷ ly hương.

                                    Non nửa thế kỷ xa quê

                                    Mà chưa có dịp về quê một lần

                                    Bảy mươi mốt tuổi tần ngần

                                    Nước non Nam Việt chiếm gần trọn tim

                                    Về Trung biết chốn nào tìm

                                    Lại ngôi nhà cũ láng giềng đã qua?

                                    Giật mình lúc chợt nghĩ ra

                                    Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi.

            Bài thơ Tâm sự, như tên gọi của nó rất chân thành mà sao đau đáu miên man về kiếp người tại thế của thi nhân. Hình như nước mắt cũng đã cạn cùng những giọt khóc thầm, cả cho những ngày thơ dại.

                                    Xuân xanh về khóc giữa dòng

                                    Tuổi già quá cỡ, tấm lòng quá vui

                                    Chần chờ tôi bước thụt lùi

                                    Tới bao giờ gặp lại thằng tuổi thơ?

            Vậy là từ một nhà thơ tự nguyện yêu trần gian hết mực, ông dùng thơ để ghi lại cuộc đời mình, cùng chuồn chuồn, châu chấu lên "đồi sim trái chín" để reo vui, bỗng chốc, ông lại rơi vào đô hội lang thang trên khắp nẻo đường, có lúc đớn đau, điên loạn "ngậm ngùi dấn thân", lạc loài cùng đỏ xanh vàng tím: "Đường quanh ngõ quẹo lang thang – Niềm vui tao ngộ muôn vàn lạ thay – Trái tim mỗi mới mỗi ngày – Mỗi giờ phút động mây trời rung rinh". Thơ, với ông là cứu cánh, là phép thắng lợi tinh thần để cứu rỗi, để "ngậm ngùi dấn thân": "Rong chơi râu tóc bạc phơ – Còn nghe đắm đuối vần thơ yêu người". Nhưng rồi ông cũng nhận ra hiện sinh đời mình là bi đát: "Ta cứ ngỡ đùa vui trong chốc lát – Nào ngờ đâu đùa mãi đến điêu linh". Cho nên một tâm lý "vô thường" xuất hiện, ngay cả quê hương và danh tánh của mình, ông cũng "đùa như thật".

                                    Hỏi tên rằng biển xanh dâu

                                    Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa

                                    Gọi tên? Rằng một hai ba

                                    Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm

            Có khi ông thấy cả thiên hà hỗn mang trong những giấc chiêm bao bơ vơ nơi đất khách, quê người.

                                    Hỗn mang về giữa thiên hà

                                    Bây giờ cố quận tên là chiêm bao

            Đo đếm gì thì cũng không qua được số mệnh đời người. Chỉ còn cách là dấn thân để đi hết hành trình cuộc sống. Và đầu phía bên kia là cõi nghìn thu mà ai cũng ghé lại để yên nghỉ vĩnh hằng: "Rồi tôi cũng phải xa tôi – Đời tài hoa cũng xa xôi ven bờ". Đó phải chăng là kết quả cuối cùng của "diệu tưởng" và "nghi tâm?"

                                    Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại

                                    Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu

                                    Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi

                                    Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu.

            Và những câu thơ định mệnh của ông đã tiên đoán chính xác cho bản mệnh đời và bản mệnh thơ của ông.

-Thưa rằng ly biệt mai sau

Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân

-Lỡ từ lạc bước chân ra

Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn

            Vậy mà đâu đây vẫn còn vang vọng sự hóa giải gần như kỳ diệu những buồn vui, ân nghĩa quanh đời hay cứu tính hiện sinh cho mỗi kiếp đời cũng thế: Sự sống và cái chết đều sóng đôi. Hai câu thơ như chân lý bất biến.

                                    Xin chào nhau giữa con đường

                                    Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau

            Hình tượng nổi bật khác trong thơ Bùi Giáng là người gái nhân gian, biểu hiện thành người tình cụ thể hay người tình trong mộng cũng thế. Ông đã yêu chân thành, mê đắm và cuồng si đến thân xác bơ phờ, đơn phương, tuyệt vọng. Từ người tình thứ nhất thuở hoa niên không thành đã thành chấn thương tình ái trong ông.

                                    Em ở lại với đời ta em nhé

                                    Em đừng đi. Cho ta nắm tay em

                                    Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ

                                    Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm

            Nhưng rồi cả tâm tưởng và thi ca không đủ níu kéo tình yêu, đành lặng nghe mùa thu rớt hột tạ từ. Tình đơn phương cũng thành ảo ảnh.

                                    Rồi từ đó về sau mang trái đắng

                                    Bàng hoàng đi theo gió thổi thu bay

                                    Anh chờ em không biết tự bao ngày

                                    Để thấy mãi rằng thơ không đủ gọi.

            Trong thực tế bi thương khi người vợ trẻ yêu quý của ông đã ra đi vĩnh viễn thì tình yêu về sau của ông cũng thành định mệnh chăng: "Mỗi giây phút mỗi bất ngờ - Mỗi đêm tưởng tượng thẹn thò cùng em – Tình em bao xiết êm đềm – Tình tôi như thể chênh vênh lạ thường". Trong đời ông, có nhiều bóng hồng xuất hiện, mỗi người một trạng thái và cung bậc tình ái khác nhau, nhưng rồi cuối cùng cũng trở thành ảo ảnh mù xa, để ông phải than lên: "Tặng đời đóa đóa hoa sầu – Nhớ nhau từ đóa mộng đầu rã đôi".

                                    Lời là muộn của muộn màng sông bể

                                    Tình là yêu vô lệ tưởng tới nhau

                                    Em hãy nhớ rằng xưa kia có kẻ

Đã yêu em và suốt kiếp mang sầu

            Nhưng tại sao Bùi Giáng lại chọn cho mình sự trái ngang trong tình yêu? Có lẽ đó là tự nguyện của ông chăng? Thú đau thương trong ly biệt nhiều khi là động lực để ông làm thơ và ngất ngây trong men rượu. Những người phụ nữ có liên quan đến thơ và đời ông như Mẫu Thân Phùng Khánh, tức mẹ Trí Hải Ni Cô, Nam Phương hoàng hậu, Kim Cương kỳ nữ, Nường Monroe, Gái Xiêm La, Hà Thanh ca sĩ, Gái Tô Châu, các em Châu Phi da đen, Đạm Tiên, Thúy Vân, Thúy Kiều, bé con Bình Thạnh, các chị miệt vườn Nam Bộ... Thật có, tưởng tượng, hư cấu có. Ai ông cũng có thơ viết về họ chân thành và xúc động. Phải nói là Bùi Giáng đa mang và đa cảm.

            Với mẹ Trí Hải Ni Cô, thánh thiện và thanh tịnh mà ông gọi là Mẫu Thân Phùng Khánh.

                                    Mẹ về đứng giữa đầu sân

                                    Cuối cùng Mẹ bước vô ngần Mẹ đi

            Ông còn giải thích: " Phùng Khánh vốn là bà mẹ Việt Nam. Tôi lại là con dân Việt Nam. Vậy tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy...Phùng Khánh là bà mẹ của loài người" (Thơ vô tận vui,tr.454): "Con về giũ áo đười ươi - Nực cười Trí Hải ngậm ngùi mẫu thân - Đẻ con một trận vô ngần - Mẹ còn đẻ nữa một lần nữa thôi - Mẫu thân Phùng Khánh tuyệt vời - Chiều xuân thơ mộng dưới trời bước đi".

            Với người con gái Long Xuyên, ông nâng lên thành thục nữ, thuyền quyên khó bao giờ gặp lại.

                                    Ôi người thục nữ Long Xuyên

                                    Tìm đâu thấy lại thuyền quyên một lần

            Với Kim Cương kỳ nữ, Bùi Giáng tôn lên ngôi công chúa. Còn mình là vua đang "vô tận ven đường" đang lang thang định nghĩa tình yêu.

                                    Kính thưa công chúa Kim Cương

                                    Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây

                                    Tờ thư rất mực móng dày

                                    Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau?

            Đặc biệt, xuất hiện nhiều lần trong thơ Bùi Giáng là hình ảnh Em Mọi sơn nữ, có khi ông gọi Em Mọi nhỏ, hoặc Gái Núi mà ông đã gặp trong thời kháng chiến ở miền rừng lúc ông còn trẻ. Hình ảnh cô sơn nữ ấy ám ảnh ông mà có lần ông kể "tưởng chừng mình đang lạc vào suối Đào Nguyên" mà Đặng Tiến cho rằng đó là "một ẩn dụ hữu cơ trong thơ Bùi Giáng và có khả năng cấu trúc thi hứng như một hình ảnh Đầu Nguồn, một sử lịch sơ khai, một suối Xuân diễm tuyệt...Gái Núi là một khai thị, khai tâm, khai tứ, khai từ" (7, tr.431-432).

 Em từ Mọi Nhỏ thanh tân

 Mười hai con mắt thiên thần mở ra

            Rồi ông lại xác quyết.

                                    Mọi là Em, Mọi Sơ Xuân

                                    Ban sơ núi đỏ chào mừng non xanh

Đó cũng là một ý kiến đáng chú ý, vì qua thơ, ta nhận ra điều ấy. Hình ảnh người em sơn nữ đã đánh thức trong tình cảm Bùi Giáng những rung cảm đẹp và nên thơ, để ông mãi gọi "Em là em mọi – Em ở đâu rồi" tưởng còn âm vang rừng núi.

                        Em ở trong rừng một buổi xưa

                        Ngẫu nhiên tao ngộ gió sang mùa

                        Hai bờ lãnh địa đâu lòng gọi

                        Sầu suốt giang sơn vọng tiếng thừa

                        (...)

Rừng xanh nắng biếc em cười nói

Một thoáng bình sinh giữa bốn trời

            Có khi ông nhìn Em Mọi hóa thành Kim Cương.

                                    Anh kêu gọi khắp sơn hà

                                    Em là Em Mọi em là Tương Lai

                                    Em là Tiên Nữ Ngày Mai

                                    Em thành Thánh Nữ Thiên Tài Kim Cương

            Nhưng rồi cuối cùng, với lòng tôn thờ thánh thiện những người mình yêu quý, ông nâng tình yêu lý tưởng ấy lên thành "đóa sầu" để được buốt nhớ: "Từ phen đá biết tuổi vàng – Một lời vâng tạc muôn vàn mai sau – Ăn làm sao,? Nói làm sao?- Thủy chung muôn một? Còn đau đớn nghìn? Bùi Giáng đã thực sự yêu và

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com