SÁNG TÁC
Lời biển – Lê Hồng Nhuận

Vầng trăng mảnh như chiếc hái khẽ lúc lắc theo từng ngọn gió nhởn nhơ ở lưng chừng trời. Trên khoảng sân rộng, những tấm lưới nếp mình căng mắt nhìn lên. Ngọn gió đang cười cợt dưới trăng chốc chốc lại trở mình xoay tít khiến nhịp lúc lắc mỗi lúc một mạnh đánh dạt những vì sao chấp chới. Những tấm lưới  còn mãi ngơ ngẩn nhìn bỗng bị nâng thốc lên mang theo những ánh mắt thảng thốt...
Năm Tính bật dậy, mồ hôi  đổ dọc sống lưng lạnh tê, hoảng hốt chạy vội đến bên cửa sổ. Trời quang. ánh đèn vàng rựng từ trụ điện bên ngoài khung cửa khiến anh định tâm. Những tấm lưới vẫn nằm yên trong góc sân. Năm Tính thở hắt ra trở lại  giường. Giấc mơ ban nãy cứ lởn vởn trong tâm trí  làm anh không sao chợp mắt được.


Từ hôm nhận từ tay Mai Mận ba chục triệu để sắm lưới mới đến giờ Năm Tính vừa mừng vừa lo. Mừng vì không phải đôn đáo chạy mượn nợ nhưng lo không thể kéo dài mãi vì số tiền mượn gần như  đã vét sạch quĩ của tổ. Lo thì lo vậy nhưng Năm Tính cũng chỉ biết trông chờ vào mỗi mùa vụ đánh bắt. Anh tính sau mỗi chuyến ra khơi sẽ dành dụm để trả dần. Ngẫm lại trước đây cứ tự thân ra khơi, một mình trần lưng cùng biển giã “được ăn cả, ngã về không”, Năm Tính thấy chạnh lòng. Nghề lưới cản như Năm Tính mà đi biển một mình lắm lúc  cũng khó khăn. Ra biển như ở trên trời, mỗi khi hư hỏng máy móc, phương tiện đánh bắt lo cháy ruột. ấy là chưa kể “Chim trời, cá nước”, đâu dễ tìm ra địa điểm luồng cá để đánh bắt trong mỗi chuyến đi. Đi biển ai mà không lo nghĩ về điều đó nhưng rồi  mãi cặm cụi  tim cách đánh bắt nên chẳng còn thời gian tính đến việc phải kết nhóm  để yên tâm làm nghề.

Con tàu công suất 90CV của Năm Tính cũng thuộc vào loại “chiến” ở phường biển Thọ Quang. Năm Tính từng giong nó ra vùng khơi Đà Nẵng, Quảng Nam, có chuyến đi tận đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ  để đánh cá. Ra khơi xa đánh bắt dài ngày Năm Tính cũng thắt thỏm lắm. Đánh bắt thì đánh bắt nhưng Năm Tính vẫn để ý dò chừng các tàu có công suất lớn khác ở cùng phường biển. Nhìn qua nhìn lại, các chủ tàu lớn  làm nghề lưới cản đếm được trên đầu ngón tay. Ngoài Năm Tính chỉ còn lại Ngô Em, Mai Mận, Lê Sung, Nguyễn Sanh thường đánh bắt xa bờ. Đêm nằm Năm Tính hay băn khoăn tự hỏi không biết các chủ tàu ấy có nghĩ  đến chuyện lập nhóm đánh bắt như anh không. “Nếu chưa ai nghĩ  tới thì gợi ý để cùng bàn bạc cũng tốt”. Năm Tính nghĩ  và tìm cách dò ý  các chủ tàu công suất lớn thường gặp để lập nhóm. Cách dăm ba bữa, ngồi uống rượu khề khà khi một người khi hai, ba chủ tàu mới vỡ lẽ ra người nào cũng có ý định nhưng chưa biết làm sao để mở lời. Năm Tính mừng rơn, bàn thốc tới luôn việc lập nhóm đánh bắt khơi xa. ở Thọ Quang ai còn lạ gì Năm Tính. Chẳng phải vô cớ mọi người gắn chữ “Tính” vào tên của anh là Huỳnh Bá Năm. Mỗi khi chuẩn bị làm việc gì anh đều tìm hiểu kỹ lưỡng và tính toán cụ thể để tránh sai sót. Mới đầu ngỡ gọi đùa, ai ngờ lâu dần thành quen. Giờ thì ngư dân ở vùng biển này chỉ quen gọi anh là Năm Tính.

Chuyến đánh bắt tiếp sau đó, nhóm đánh bắt xa bờ với năm tàu công suất 90CV làm nghề lưới cản cùng ra khơi. Thời gian này, nhìn quanh  quất ở Thọ Quang rồi nhìn ra các phường chài khác đã có ngư dân nào kết nhóm để làm nghề đâu. “Không ai làm thì mình làm. Chỉ sợ không giữ  nổi nhóm thôi”. Sau mỗi chuyến đi khơi về, anh em trong nhóm thường nói với nhau vậy. Năm Tính ngồi nhắp rượu, nghe ấm đến tận ruột. Anh em ai cũng vui, bước đầu vậy là nên chuyện rồi. “Răng rồi anh?Công việc êm xuôi không?”. Vợ Năm Tính hay hỏi thăm chừng chừng với vẻ lo lắng. “Yên rồi, tốt hơn trước đây nhiều. Em coi, lưới đẹp không?”. Săm soi tấm lưới trên tay, Năm Tính cười nheo mắt trước ánh nguýt dài của vợ. Năm Tính nhận ra vẻ căng thẳng giãn dần trên gương mặt vợ qua mỗi lần hỏi về chuyến ra khơi mới  của nhóm anh.

Từ hôm nghe các đồng chí lãnh đạo phường Thọ Quang phổ biến Qui chế đánh bắt hải sản trên biển của Uỷ ban nhân dân Thành phố, năm anh em như mở cờ trong bụng. Gặp Năm Tính, anh em trong nhóm lại giục: “Năm Tính, chuẩn bị tới đâu rồi?”. Năm Tính điềm tĩnh cười: “Làm gì nôn nóng dữ mấy ông?”. Nghe thì nghe vậy nhưng biết tính Năm Tính, anh em cảm thấy yên tâm. Chỉ  hai tháng sau ngày qui chế của Thành phố được ban hành, nhóm của Năm Tính chuyển thành tổ số 1 đánh bắt xa bờ với nghề lưới cản. Tại buổi lễ nhận quyết định thành lập tổ, cả Năm Tính, Ngô Em, Mai Mận, Lê Sung, Nguyễn Sanh mới hay đây là tổ đánh bắt hải sản trên biển đầu tiên ở thành phố. “Ngon he, hồi lập nhóm chỉ có độc một nhóm, chừ lập tổ cũng là tổ đầu tiên, đâu phải là chuyện nhỏ”. Ngô Em cười rạng rỡ nói với anh em khi nhận nhiệm vụ làm tổ trưởng. Các đồng chí lãnh đạo ở phường Thọ Quang, ở quận Sơn Trà, Sở Nông lâm thuỷ sản Thành phố cũng chúc mừng và động viên  anh em trong tổ hỗ trợ nhau nâng cao sản lượng đánh bắt hải sản. Nhìn anh em lặng thinh Năm Tính hiểu mọi người đang thầm nhủ từ nay phải cố gắng nhiều hơn nữa trước nhiệm vụ mới.

Thọ Quang là một trong những phường đánh bắt hải sản mạnh của quận Sơn Trà. Khi còn là Chủ tịch Hội Nông dân phường Thọ Quang, có dịp đi đây đi đó, hội họp gặp gỡ các đồng chí trên quận, Năm Tính cũng được nghe nhiều, thảo luận nhiều về những đề án phát triển vùng biển Sơn Trà. Mọi người trăn trở nhiều để làm sao Sơn Trà có thể trở thành trung tâm khai thác thuỷ sản của Thành phố, từ đó góp phần xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm thuỷ sản lớn của đất nước và cả khu vực. Bàn luận nhiều, nghĩ cho rộng, nghe thì nghe vậy nhưng Năm Tính nghĩ suy cho cùng cũng chỉ là làm sao nâng cao năng suất đánh bắt hải sản. Năm Tính và anh em trong tổ hiểu thành lập tổ đánh bắt hải sản ở các phường biển cũng là nhằm mục đích đó thôi.

Lúc chuyền nhau xem tờ quyết định, mọi người trong tổ cười  tự tin: “Hồi nào tới giờ trên bờ thì “buôn có bạn, bán có phường”, còn trên biển chừ đã có tổ đánh bắt. Vậy là yên tâm rồi”. Trước đây khi tự kết nhóm nào có qui ước , nguyên tắc gì đâu nhưng từ ngày được tổ chức thành tổ, mọi việc đều trở nên chặt chẽ. Ai cũng nắm vững qui chế như thuộc lòng bàn tay từ trách nhiệm phải hỗ trợ nhau về kinh nghiệm, về vốn, về ngư trường đánh bắt, thị trường giá cả tiêu thụ sản phẩm  và khi có sự cố trên biển đến quyền lợi được hỗ trợ chuyển giao công nghệ, kỹ thuật khai thác mới, được cứu hộ cứu nạn trên biển, ưu tiên xét giảm thuế khi bị rủi ro... Mọi người nhận ra một điều nếu chỉ có sự quan tâm lẫn nhau  giữa anh em trong tổ vẫn chưa đủ mà  cần phải có sự quan tâm của địa phương, của Thành phố thì  mới có điều kiện ăn nên làm ra và việc đánh bắt sẽ hiệu quả hơn. Hiểu ra rồi lòng ai cũng thanh thản. Những ánh mắt, những gương mặt đã ánh lên niềm vui trong mỗi chuyến ra khơi. Năm Tính nhận rõ chừng như niềm tin đã tạo nên điều đó ở mọi người.

Vay tiền quĩ của tổ sắm lưới  mới Năm Tính lại nhớ những ngày anh thành lập hai chiếc tàu đánh bắt cá để tạo việc làm cho các xã viên. Bấy giờ Năm Tính mới được bầu làm Chủ tịch Hội Nông dân phường Thọ Quang. Huy động vốn từ các hộ xã viên không đủ, anh đứng ra vay ngân hàng nhà nước. Bằng cách đó chẳng bao lâu sau, hai chiếc tàu được hoàn thành và ra khơi hoạt động. Chỉ qua hai năm, Năm Tính trả xong các khoản vay lẫn lãi cho ngân hàng. Sau ngày ấy,  Năm Tính mới dứt được nỗi lo canh cánh vì nợ trong mỗi lần đi biển. Đó là lần đầu tiên trong đời  làm nghề đánh cá Năm Tính mang nợ .

Gia đình Năm Tính đã hai mươi đời theo nghề biển. Khi Năm Tính còn học lớp bốn, cha đã đem anh lên tàu. “Cho nó tập làm quen dần với sóng gió đi”. Cha nói với những người trên tàu như để giải thích. Lúc nhỏ, Năm Tính đã thích những tấm lưới. Anh thường ngồi xem thợ vá lưới, mắt dán chặt vào những mắt lưới dẫu chẳng hiểu gì. Mỗi lúc lên tàu, nhìn những tấm lưới được phát tung trên mặt nước và nhất là nhìn những mẻ lưới  căng đầy cá được kéo lên, anh cũng lại săm soi từng mắt lưới. “Lưới cũng có hồn đó”. Những đêm nằm chờ ngoài khơi, cha đã thầm thì bên tai anh. Lúc đó Năm Tính chẳng hiểu cha đang tự nhủ hay đang truyền lại cho anh điều thiêng liêng của những tấm lưới đã gắn bó với một đời lênh đênh trên biển của ông. Năm Tính nhớ mãi cảm giác ram ráp mà mát lạnh khi lần đầu được chạm tay vào những mắt lưới ở trên tàu. Anh đã thần người bởi nhận ra thêm một điều lạ lẫm nữa từ những tấm lưới ấy. Mỗi khi nhìn những cột cờ bằng thân tre gắn lá cờ đen cùng chiếc đèn nháy để phân cách khoảng kéo lưới trên tàu, anh thường nhẩm tính số lưới mang theo. Mỗi khoảng cờ giăng gần hai mươi tấm lưới. Cả dàn lưới phủ suốt lượt dễ chừng phải đến ba mươi hải lý. Khi đêm đến, những chiếc đèn nháy sáng lên kết thành dải in trên mặt nước lung linh. Nhìn ánh đèn, Năm Tính lại nghĩ đến những mắt lưới  đang thao thức lặng lẽ mời gọi  từng luồng cá trong đêm giữa lòng biển khơi. Bấy giờ Năm Tính chưa hiểu được hết giá trị của những tấm lưới nhưng anh cảm thấy có một cái gì đó thật kỳ lạ khi những mẻ lưới được kéo lên đầy cá, làm rạng rỡ  khuôn mặt sạm nắng gió biển khơi của cha anh trên khoang tàu. Thời gian Năm Tính theo cha đi biển chỉ một vài năm nhưng cái cảm giác kỳ lạ mỗi khi nhìn những mắt lưới ấy đã khiến anh không sao quên được trong những năm thoát ly hoạt động cách mạng. Những ngày làm liên lạc khu rồi tham gia bộ đội huyện chiến đấu ở Điện Dương, ở Thăng Bình bị thương được đưa ra Bắc, anh vẫn ngong ngóng trông ngày trở về với con tàu, với những tấm lưới  cùng ngược xuôi trên biển. Nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương trong anh như dồn cả vào nỗi nhớ những mắt lưới trong đêm giữa biển khơi. Đêm đêm trông ánh sao trời, anh lại nghĩ đến những ngọn đèn nháy trên các cột cờ phân cách lưới những  ngỡ như thấy vùng biển quê hương đang ở trước mặt.

Năm Tính bắt đầu nghề đi biển khi đã nghỉ hưu sau mười năm làm cán bộ nhà nước. Anh nghỉ hưu trước tuổi vì đã đủ năm công tác. Nhiều người tỏ vẻ nuối tiếc song anh vẫn thanh thản với quyết định của mình. Năm Tính trở thành chủ tàu đánh bắt xa bờ. Những lúc đưa tàu ra khơi, Năm Tính mới thấm thía nỗi lo toan của cha anh ngày trước. Năm Tính nhớ lần đầu dẫn anh xuống tàu, cha anh đã nói như nhắn nhủ: “Cho mày đi một trăng để biết đánh cá là răng”. Sau lần ấy, Năm Tính biết được thời gian của một chuyến đánh bắt gần cả hai mươi ngày, thường sau rằm xuất bến cho đến gần giáp rằm lại mới quay về. Đến giờ  thì đã bao lần “một trăng” Năm Tính giong tàu trên biển tìm nguồn cá. Mỗi tiết hạ về đông sang, xem trời ngắm mây để định ngày hạ tàu, Năm Tính lại nhớ đến cha. “ Tháng giêng động dài/Tháng hai động tố/Tháng ba nồm nộ/Tháng tư nôm nam...Tháng chín lụt/Tháng mười bão...”.Những ngày theo cha đi biển, Năm Tính đã gắng thuộc lòng những lời ấy. Lúc bấy giờ không hiểu sao anh lại nghĩ  sau này rồi  sẽ có lúc cần đến những điều cha đã dặn dò. Âu đó cũng là duyên nợ của anh với nghề biển sau bao năm ngỡ đã không thể thực hiện được.

Những lúc bàn chuyện đánh bắt anh em trong tổ thường hay đùa: “Đi theo tổ kiểu này, có bao nhiêu cá nổi là mình bợ hết”. Nghề lưới cản là nghề đánh cá nổi. Lưới thả chỉ ở khoảng sâu hai mươi mét kể từ mặt nước trở xuống. Dàn lưới khi ra khơi là tâm huyết, công sức của cả đoàn tàu. Năm Tính đặt hết niềm đam mê vào những tấm lưới. Anh chăm chút từng mắt lưới như gởi gắm vào đấy niềm hy vọng của mỗi chuyến đi biển. Mỗi lần thả bộ những tấm lưới, anh cảm thấy từng mắt lưới căng hết mình như cũng thấu hiểu lòng anh. Những mắt lưới chỉ cỡ năm phân vuông vắn mà có sức mạnh đến không ngờ. Mỗi mẻ cá Năm Tính kéo lên có đến hơn năm mươi loại. Những con cá ngừ, cá cờ, cá cu, cá giỏi, cá nhám, cá rựa, cá thu ... quẫy tanh tách sau những mắt lưới như đang xiếc trông thật ngộ nghĩnh. Nhìn chúng anh lặng người vui sướng tự hỏi không biết còn có bao nhiêu loại cá nữa đang quẫy đạp dưới lòng biển thăm thẳm kia mà anh chưa được trông thấy. Biển cả thì vô chừng. Con cá  dưới nước cũng như hạt lúa trên đồng để có được đâu phải là điều dễ dàng. Thời gian sau này, Năm Tính càng nhận rõ điều đó. Mỗi một trăng ra khơi là một lần nếm trải thử thách của biển. Những lần say sóng trong thời gian đầu lên tàu đã luyện Năm Tính thành người của biển. Ngày trước trong những lần cha và các chú trò chuyện, Năm Tính hay nghe  nói đến tài công. Năm Tính không hiểu nhưng chẳng  dám hỏi. Một lần cha anh bất chợt hỏi: “Con có biết tài công là gì không ?”.Năm Tính lắc đầu, nhìn cha  với vẻ tò mò. Cha vỗ vai anh , cười : “Tài công là linh hồn của con tàu. Một tài công giỏi phải biết dò tìm điểm đánh bắt, lượng tính được số lượng cá để mở rộng hoặc thu hẹp điểm đánh bắt nuôi sống con tàu.”.Từ lúc đó, Năm Tính có cảm nhận dường như cha đã đặt hy vọng vào anh. Những lần ra khơi cùng cha sau đó trở nên khác lạ hẳn...

Mỗi khi trở trời Năm Tính lại xuống sức do vết thương tái phát. Thời gian sau này, Năm Tính ít đi biển bởi sức khoẻ giảm sút nhưng tổ đánh bắt hải sản số 1 vẫn không thiếu vắng tàu của anh. Người cháu gọi Năm Tính bằng chú thay anh điều hành mọi việc trên tàu. Ngồi ở nhà Năm Tính lại nhớ tàu nhớ biển, nhớ những mẻ lưới căng đầy cá, nhớ cả mùi tanh hăng của những con cá tươi ròng ánh nước biển khơi và nhất là cảm giác ram ráp từ những mắt lưới mỗi khi chạm vào. Vợ Năm Tính hiểu nỗi niềm của chồng nhưng chị biết thật khó mà làm cho anh nguôi khuây được. Mỗi lúc như thế chị  chỉ biết chia sẻ trong sự lặng lẽ bên anh mỗi ngày. Lâu dần chừng như nỗi nhớ ở Năm Tính đã truyền cả sang chị khiến chị  nhận ra không gì có thể làm dịu đi nỗi niềm trong anh.

Sau mỗi chuyến ra khơi, anh em trong tổ vẫn thường họp mặt để nói chuyện biển giã. Từ khi tự họp nhóm  rồi thành lập tổ, mọi người không còn phải áy náy về khoảng cách sản lượng đánh bắt giữa các tàu nữa. Trước đây có tàu chỉ đánh bắt được năm, sáu tạ, có tàu đến hai, ba tấn. Nay thì  sản lượng đã tăng nhiều và khá đồng đều ở mỗi tàu. Năng suất đánh bắt tăng lên đâu phải là chuyện dễ. Sau ngày tổ đi vào hoạt động rồi mọi người mới thấy lo vì giờ đây sản lượng đánh bắt hải sản không chỉ là lợi ích của riêng mỗi cá nhân trong tổ mà còn gắn với hoạt động khai thác thuỷ sản, với sự phát triển kinh tế của phường, của quận. Năng suất sau mỗi chuyến đi biển dẫu tăng nhưng biết có được mãi như thế không. Nỗi lo ấy vẫn thường trực trong lòng mỗi người như một lời nhắc nhở để cùng nhau dốc sức hơn.

Buổi  họp tổ đầu tiên, Ngô Em nói với mọi người rất tâm huyết: “ Anh em mình phải giúp đỡ nhau , không được để mất liên lạc, có việc chi phải tìm cách khắc phục ngay, cố gắng đánh bắt cho có hiệu quả”. Năm Tính, Mai Mận, Lê Sung, Nguyễn Sanh chăm chắm lắng nghe, nhìn nhau đồng tình.

Sau cuộc họp ấy, mỗi lần tàu ra khơi,  dẫu không neo đậu gần nhau nhưng anh em trong tổ vẫn liên lạc bằng Icom suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ trong ngày. Qua hệ thống thông tin liên lạc này những địa điểm đánh bắt mới, những sự cố về kỹ thuật, ngư cụ, đều được thông báo để hỗ trợ nhau khắc phục kịp thời. Từ sau mỗi chuyến đi biển đã có một cái gì đó vừa gắn bó vừa ràng buộc giữa anh em trong tổ khiến mọi người yên tâm đánh bắt và mạnh dạn ra khơi bám biển dài ngày. Những ngày dài trên biển dồn sức đánh bắt là khoảng thời gian Năm Tính nhận ra cái giá phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt thậm chí cả tính mạng cho từng mẻ lưới đánh được từ lòng biển khơi. Chỉ cần một sự tắc trách nhỏ của bản thân người đi biển hay của những cơ quan chức năng có liên quan thì theo đó niềm vui, nỗi buồn, nỗi đau mất mát dường như cũng đồng hành cùng những người làm nghề đi biển. Biết vậy song các ngư dân vẫn không nề hà bởi đã chọn đó là cách mưu sinh cho cả đời người.

Mỗi lần chuẩn bị chuyến ra khơi mới, vợ Năm Tính lại thăm chừng: “Đi bao lâu, anh?” Năm Tính cười: “Đánh được cá thì khoảng mươi lăm, hai mươi ngày, không thì phải bám thêm vài hôm nữa. Quyết tìm cá để đánh mà”. Vợ Năm Tính lẳng lặng chuẩn bị. Thời gian này, vợ Năm Tính thường nghe chồng nói về việc đánh bắt, lúc thì phải khai thác kết hợp với việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, lúc thì phải phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn theo hướng cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Vợ Năm Tính ngạc nhiên: “Anh nói cứ như lãnh đạo phường, lãnh đạo quận nói không bằng”. “Định hướng phát triển khai thác thuỷ sản của phường, của quận mình đó. Hiện nay đang làm, sắp tới phải làm mạnh thêm nữa. Nhất là tập trung cải hoán tàu thuyền nhỏ, đầu tư phát triển tàu công suất lớn để đánh bắt xa bờ , chuyển đổi nghề khai thác và xây dựng các tổ tương hỗ trên biển...”.Năm Tính giảng giải cho vợ. Những điều này anh em trong tổ đều biết. Mọi người hiểu, biết không phải chỉ để biết mà là phải làm sao thực hiện cho được. Hiểu là vậy nhưng làm nghề biển thì khó thể đoan chắc được mọi việc vì còn phải lệ thuộc bởi bao điều không đoán định nổi mỗi khi chuẩn bị ra khơi.

             Anh em trong tổ hồ hỡi thông báo cho nhau :“Thêm bốn tổ  đánh bắt nữa vừa được thành lập. Từ nay có bạn rồi”. Vậy là chỉ mấy tháng sau ngày thành lập tổ số 1, số tổ đánh bắt trên biển đã tăng lên. Năm Tính mừng thầm khi được biết rồi tất cả các ghe, tàu lớn nhỏ  ở Thọ Quang sẽ được sắp xếp hết vào các tổ đánh bắt xa bờ và ven bờ để tạo điều kiện cho các ngư dân hỗ trợ nhau khi đánh bắt thuỷ sản theo chủ trương của trên. Những ngày làm chủ tịch hội nông dân, Năm Tính cũng từng suy nghĩ về việc này. Ngư dân ở địa phương thì đông nhưng phần lớn thuộc diện nghèo hoặc có mức sống tầm tầm nên khả năng huy động vốn tự có rất thấp. Muốn đầu tư cho khai thác thuỷ sản mà nhất là khai thác xa bờ phải đóng tàu thuyền có công suất lớn, điều này vượt quá khả năng của ngư dân. Tàu công suất nhỏ không cải hoán được nên chỉ khai thác ven bờ và vùng lộng, đã vậy mỗi tàu một nẻo hành nghề trên biển nên sản lượng đánh bắt không cao. Đời sống ngư dân theo đó cứ khó khăn mãi. Nghề đánh bắt hải sản là nghề truyền thống đã bao đời nay không chỉ riêng Thọ Quang mà là hầu hết các phường ở Sơn Trà. Cái khó, cái khổ trong nghề của ông cha bao đời qua, lớp con cháu sau này đều được biết. Mỗi lần gợi về chuyện xa xưa các ngư lão ở phường biển thường ngậm ngùi: “ Hồi Pháp thuộc rồi những năm chiến tranh kéo dài, đời sống ngư dân cực lắm. Làm nghề biển không đủ sống phải xoay xở  bằng “chân đồng, chân biển”, thậm chí khai thác cả lâm sản nên hồi đó mới có câu: “Sớm mai lên núi đốt than/ Chiều về xuống biển đào hang bắt còng”. Tình cảnh của ngư dân là vậy đó”. Sau này khi đã lăn lộn trên biển, Năm Tính mới hiểu nỗi xa xót của những ngư dân ngày trước không phải là bình thường. Sự nghèo khổ, thiếu thốn về tiền của, về phương tiện đánh bắt của một thời cứ ám ảnh anh suốt những năm qua. Khi cùng số anh em chủ tàu đánh bắt xa bờ lập nhóm rồi thành tổ số 1, điều mà Năm Tính mong muốn và đồng tình nhất là xây dựng quĩ để hỗ trợ cho những tổ viên bị tai nạn trên biển và cho vay không lãi để sắm ngư cụ, sửa chữa tàu thuyền. Nghĩ lại hồi còn đi đánh bắt  riêng lẻ thiếu tiền mua sắm ngư cụ, hai vợ chồng  ngồi nhìn nhau rớm nước mắt, Năm Tính  càng thấy việc lập quĩ là thiết thực. Đồng tiền trong quĩ dẫu không nằm yên nhưng nhiều anh em trong tổ đã nhờ đó mà vượt qua được những lúc ngặt nghèo để tiếp tục ra khơi. Vừa rồi Năm Tính bị mất lưới trong khi đánh bắt, anh em chia nhau tìm kiếm mãi không thấy. Năm Tính suy tính thắt ruột vẫn không tìm được cách xoay xở. Giờ thì những tấm lưới  mới đang nằm trên sân kia. Năm Tính sắm được lưới chính là nhờ vào nguồn quĩ của tổ.

Dõi nhìn những tấm lưới, Năm Tính tự hỏi phải chăng biển cả không chỉ là nguồn mưu sinh mà còn là nơi đón nhận những niềm vui nỗi buồn của ngư dân. Ngẫm lại những chuyến đánh bắt khơi xa trong thời gian gần đây Năm Tính thấy chạnh lòng bởi bao điều lực bất tòng tâm. Lao động đi biển đang ngày một trở nên khan hiếm. Một chuyến tàu đánh bắt xa bờ với công suất 90CV ít nhất cần đến mười lao động. Để thuê được đủ số lao động này không phải dễ. Các chủ tàu đã phải ứng trước tiền công của mỗi chuyến đi biển cho từng lao động mới thuê được người lên tàu. Chuyến đó nếu không may sản lượng đánh bắt thấp, tiền thu được không đủ trang trải chi phí chuyến đi và trừ lại số tiền đã ứng cho lao động xem như là thâm vốn. Mất tiền là một lẽ song vẫn không giữ được nhóm lao động này để thuê đi tiếp chuyến sau. Nhiều anh em  nghĩ cách đề nghị ký hợp đồng đi biển, mua bảo hiểm cho số lao động đã thuê để giữ chân. “Chủ tàu nào trả công cao thì tôi đi. Ông không sợ mất tiền sao?”. Những lao động đã chẳng do dự từ chối với lý do chính đáng như  vậy. Cuối cùng  không có cách gì để thuyết phục được họ ở lại tàu đành phải tìm thuê một nhóm mới. Thuê lao động đi biển là một mối lo  không nhỏ đối với các chủ tàu trong mỗi chuyến ra khơi. Hiện giờ lao động đi biển rất hiếm trong đó số người cư ngụ ở Đà Nẵng lại càng hiếm, hầu hết là từ các xã biển của Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Quảng Bình đến. Tìm lao động đi biển phổ thông đã là khó khăn nói gì đến lao động đánh bắt có nghề thì lại càng khó khăn hơn nhiều. Có chủ tàu đã phải bấm bụng đưa cả vợ xuống tàu vì thiếu lao động. Càng lúc chừng như ngay đến cả người dân vùng biển cũng chẳng mấy mặn mà với nghề đánh bắt nữa. Đã thế thì làm sao mà không vất vả mỗi lúc tìm kiếm lao động đi biển cho mỗi chuyến đánh bắt xa bờ.

 Những năm trước đây, mỗi một trăng Năm Tính đánh bắt được hai, ba tấn thu được đến bốn, năm triệu. Giờ thì một trăng cất lưới được gấp đôi, gấp ba nhưng số tiền thu được vẫn  chẳng nhỉnh hơn bao nhiêu. “Xăng dầu lên, gạo nước lên, nước đá lên, công lao động lên, mọi cái đều lên mà giá cá không lên thì có đánh bắt nhiều mấy cũng không theo kịp vật giá đắt đỏ hiện chừ”. Vợ Năm Tính lên tiếng khi thấy Năm Tính thừ người trước những con số. Năm Tính ngẫm nghĩ những năm giá dầu còn ba ngàn đồng một lít, một ký cá cờ đã là mười hai ngàn đồng. Nay dầu lên gần tám ngàn đồng, giá một ký cá cờ vẫn không đổi. Đánh bắt ngày một thêm vất vả. Trước đây cho tàu chạy khoảng mười tiếng đồng hồ đã tìm thấy nguồn cá, bây giờ có khi phải giong tàu đến gần năm mươi tiếng cũng chưa chắc đánh được cá. Dẫu  không muốn làm phép tính cũng thấy rõ sự chênh lệch giữa chi phí và nguồn thu từ việc đánh bắt khơi xa. Thử hỏi làm sao  các chủ tàu không xót lòng trước bao khó khăn cần phải tính toan cho một chuyến đi.

Mỗi lần tàu về bến, không riêng gì Năm Tính mà các chủ tàu đều thấp thỏm với những mẻ cá đã đánh được. Bán cho các xí nghiệp chế biến thuỷ sản sẽ không bị ép giá nhưng có điều bất tiện là xí nghiệp không mua trọn nên số cá còn lại phải chở về vừa tốn phí chuyên chở vừa phải tìm nơi khác để tiêu thụ, kéo dài thời gian ảnh hưởng đến việc bảo quản cá. Suy tính kỹ mọi lẽ, mọi người tìm cách đặt vấn đề  với các xí nghiệp chế biến cho nhân viên thu mua đến tận tàu chọn cá, chi phí cho việc chuyên chở và nhân viên thu mua, chủ tàu chịu cả. Đến mức ấy mà các xí nghiệp cũng không nhận lời buộc lòng phải bán qua nậu cá.  Nậu cá là tư nhân đã hợp đồng trước với các xí nghiệp về việc cung cấp cá nên thường  khống chế  các mối mua lẻ khác và ra giá rất thấp. Những cuộc mua bán qua nậu cá vẫn thường diễn ra trên bến các phường biển trong nỗi day dứt của các chủ tàu. “Phải chi nhà nước có tổ chức tiêu thụ cá với giá hợp lý. Có rứa  thì  may ra ngư dân mới khá lên được”. Các chủ tàu đánh  bắt hải sản thường trao đổi trong tiếng thở dài mỗi khi bàn chuyện bán mua trên bến.

Dạo sau này, Năm Tính và Mai Mận thường ít theo tàu ra khơi hơn anh em trong tổ. Dẫu không trực tiếp đứng sóng chịu gió song những khó khăn trên ngư trường, trên bến trong mỗi chuyến đánh bắt mọi người đều chia sẻ cùng nhau. Nỗi lo về lao động, về giá nhiên liệu tăng cao, về giá bán cá đánh bắt được vẫn không thay đổi trở thành câu chuyện cửa miệng của các chủ tàu. “Cứ đà này, nghề biển ngày càng teo thôi”. Ai cũng đọc được ý nghĩ đó của nhau dù không nói ra.

Đôi khi gặp bạn bè đi biển, Năm Tính chựng người trước những lời bộc bạch: “ Đời cha khổ rồi, đời con không cho nó theo nghề biển nữa. Cố học kiếm cái chữ làm nghề khác thong dong hơn”. Năm Tính vẫn nhận ra có gì nghèn nghẹn ẩn trong giọng nói dằn dỗi ấy. Đêm về, Năm Tính trở mình với ý nghĩ: “ Dù sao thì nghề khai thác thuỷ sản vẫn tồn tại nhưng sẽ tồn tại như thế nào đây?” Năm Tính nghĩ đến những điều đã được nghe nhiều trong những ngày gần đây về việc phát triển khai thác thuỷ sản của địa phương, của Thành phố  mà anh đã từng nói với vợ. Ngẫm đi ngẫm lại, Năm Tính vẫn tâm đắc  với hướng đầu tư vốn cải hoán tàu thuyền, xây dựng tổ tương hỗ trên biển và việc kết hợp khai thác với hoàn thiện cơ sở dịch vụ hậu cần cho khai thác, làm sao để khắc phục sự chênh lệch giữa sản lượng khai thác với chi phí và nguồn thu nhập của người đánh bắt. Không phải chỉ riêng Năm Tính mà anh em làm nghề biển đều mong  được như vậy. “Mấy ông lãnh đạo ở trên cũng thấy rồi nên đã nghĩ cách để vực nghề khai thác thuỷ sản dậy đó. Chắc lần ni làm mạnh đây. Muốn rứa phải xắn tay áo làm, chớ nói hoài thay đổi được  chi”. Bên những cốc rượu gạo, các chủ tàu không chỉ nói chuyện phiếm nữa. Mọi người đã nói đến những cái chung lớn hơn mà trước đây ít khi nghĩ đến. Ngồi nghe, Năm Tính cảm thấy lòng nhẹ bổng.

 

*

*     *

 

Trên sân, những tấm lưới mới bắt nắng chiều ánh lên lấp lánh. Năm Tính đang chuẩn bị cho một trăng đánh bắt mới. Nhìn những mắt lưới, Năm Tính lại nhớ đến cảm giác lúc trời chiều đổ bóng non sào đòn gánh, đứng ở mũi tàu neo trên mặt nước mênh mông nhìn về bến bờ xa tít, lòng cồn cào nỗi nhớ nhà không sao dứt ra được. “Nỗi nhớ truyền đời của nghề biển đó con à. Chỉ có lòng đam mê mới chống đỡ được nó”. Năm Tính nhớ khi còn sống cha anh đã giảng giải về điều đó trong những ngày lênh đênh trên biển.

Tối đến trong giấc ngủ mơ màng, Năm Tính nghe thoảng bên tai tiếng gió rít thao thiết : “ Nghèo thời họ ruộng em theo/ Giàu thời làm biển hồn treo cột buồm”. Tiếng thao thiết mỗi lúc một vây chặt lấy anh. Năm Tính cố vẫy vùng. Giữa lúc chới với chực ngã, những tấm lưới từ đâu xoả tung ra cuốn lấy những lời thao thiết vượt lên những con sóng trắng xoá trong đêm. Năm Tính tỉnh giấc. Những mắt lưới trên sân cũng cựa mình đau đáu nhìn anh .. .

 

                                                               

L.H.N

CÁC TIN KHÁC
Dãy nhà mưa – Thơ Nguyễn Thị Anh Đào (13-12-2018)
Mùa mưa ở căn cứ - Thơ Thanh Quế (12-12-2018)
Tín ngưỡng của ngư dân ven biển Đà Nẵng - Ngọc Giao (11-12-2018)
Trưa trong vườn chùa Thiền Tôn ở Huế - Thơ Nguyễn Nhã Tiên (10-12-2018)
Ngóng đợi – Thơ Ngân Vịnh (09-12-2018)
Chuyện không đâu - Truyện ngắn của Thục Quân (08-12-2018)
Còn nốt nhạc tháng giêng – Thơ Đinh Thị Như Thuý (07-12-2018)
Nụ cười qua gương - Thơ Bùi Mỹ Hồng (06-12-2018)
Nói vậy thôi – Thơ Lê Huy Hạnh (05-12-2018)
Ký ức Trường Sơn – Trần Trung Yên (04-12-2018)
Đôi điều về tính chất lưu dân trong ca dao Quảng Nam - Đà Nang – Bùi Văn Tiếng (30-11-2018)
Từ những nhịp cầu – Đặng Phương Trinh (29-11-2018)
Thím tôi - Hoàng Nhật Tuyên (24-11-2018)
Cõi lặng – Truyện ngắn Thục Quân (21-11-2018)
Anh đâu – Thơ Cẩm Lệ (19-11-2018)
Văn hoá, nhìn từ góc độ phát triển thành phố - Lê Hồng Nhuận (17-11-2018)
Linh cảm – Truyện ngắn Trần Trung Yên (16-11-2018)
Nén lại – Thơ Nguyễn Thị Anh Đào (14-11-2018)
Ẩm thực của ngư dân Đà Nẵng qua ca dao, tục ngữ - Ngọc Giao (13-11-2018)
Lửa không tắt – Thơ Nguyễn Nhã Tiên (12-11-2018)
Thứ sáu, ngày 14/12/2018
Tôi tự do, cho dù xung quanh tôi là những luật lệ gì. Nếu tôi thấy chúng có thể chấp nhận được, tôi chấp nhận chúng; nếu tôi thấy chúng quá khó chịu, tôi phá vỡ chúng. Tôi tự do bởi tôi biết bản thân tôi chịu trách nhiệm trước lương tri mình vì mọi điều t
Robert A Heinlein

Đừng âu sầu khi nói lời tạm biệt, lời tạm biệt là cần thiết trước khi ta có thể gặp lại nhau, và gặp lại nhau, cho dù sau khoảng thời gian ngắn ngủi hay sau cả một đời, là điều chắc chắn sẽ xảy ra với những người bạn hữu.
Richard Bach

Một người bạn cũng giống như ngôi sao bắc đẩu, bạn trông vào họ khi bạn lạc đường.
Khuyết danh

Tình yêu không không phải toàn bộ đều là cơn mê sảng, nhưng nó có rất nhiều điểm giống.
Thomas Carlyle

Thành công trong tình yêu không phụ thuộc nhiều vào việc tìm được người có thể làm bạn hạnh phúc bằng việc trốn thoát vô số người có thể làm bạn khổ sở.
Khuyết danh

Cũng như thung lũng cho ngọn núi chiều cao, khổ đau cho lạc thú ý nghĩa; cũng như mạch nước là nguồn của suối, nghịch cảnh sâu sắc có thể là châu báu.
William Arthur Ward

Sự mất mát khiến chúng ta trống rỗng - nhưng hãy học cách không để sự đau khổ đóng lại trái tim và tâm hồn mình. Hãy để cuộc đời đổ đầy lại bạn. Dưới đáy u sầu, dường như điều đó là không thể - nhưng những niềm vui mới đang chờ đợi để lấp đầy khoảng trống
Pam Brown

Hãy yêu tôi khi tôi ít xứng đáng với tình yêu ấy nhất, Bởi đó là lúc tôi thực sự cần nó.
Tục ngữ Thụy Điển

Đừng đếm những gì bạn đã mất, hãy quý trọng những gì bạn đang có và lên kế hoạch cho những gì sẽ đạt được bởi quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng tương lai có thể bù đắp cho mất mát.
Khuyết danh

Đôi lúc cũng cần thiết dừng chân trong cuộc hành trình theo đuổi hạnh phúc, và chỉ đơn giản là cảm thấy hạnh phúc.
Guillaume Apollinaire

Tôi, không phải tình huống, có sức mạnh làm tôi hạnh phúc hay bất hạnh ngày hôm nay. Tôi có thể chọn nó sẽ thế nào. Ngày hôm qua đã chết. Ngày mai còn chưa tới. Tôi chỉ có một ngày, Hôm nay, Và tôi sẽ hạnh phúc với nó.
Groucho Marx

Khi một cây sồi đổ, cả khu rừng vang vọng tiếng đổ của nó, nhưng hàng trăm hạt sồi được cơn gió thoảng qua lặng lẽ gieo.
Thomas Carlyle

Thứ duy nhất có thể cứu được thế giới là phục hồi nhận thức của thế giới. Đó là công việc của thi ca.
Allen Ginsberg

Tình yêu là trạng thái mà khi đó hạnh phúc của một người khác trở nên cực kỳ quan trọng đối với hạnh phúc của bạn.
Robert A Heinlein

Với những kẻ độc ác, mọi thứ đều là cái cớ.
Voltaire

Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet : Số 11/GP - BC Do Bộ thông tin và truyền thông , Cục Báo chí cấp ngày 10 tháng 01 năm 2008.
- Địa chỉ: K54/10 - Ông Ích Khiêm, Thành phố Đà Nẵng
- Điện thoại : 0511-3821434 - Fax: 0511-3519300,
- Tổng biên tập: Nguyễn Thị Thu Hương
- Email: lhvhntdanang@gmail.com - Website: vannghedanang.org.vn