SÁNG TÁC
Tết về xứ Quảng xem Tuồng - Hoàng Hương Việt

1. Ở Quảng Nam quen gọi, đi xem hát bội. Có lẽ như trong sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (1768 - 1839), Thị giảng đại học sĩ, thời Minh Mạng, gọi sân khấu truyền thống của ta là phường chèo bội. Cho nên cụ Phạm Phú Tiết (1894 - 1980), Tổng đốc Bình Phú, thời Bảo Đại, nhà nghiên cứu tuồng cổ, trong cuốn Hội thoại về lịch sử nghệ thuật sân khấu tuồng, cho rằng Phạm Đình Hổ gọi chữ "bội", là bội nhị, bội tam (tăng lên) là thuyết phục, bởi nghệ thuật sân khấu hát bội là ước lệ, cách điệu nhiều hơn so với cuộc sống thường nhật. Cụ Nguyễn Hiển Dĩnh (1853 - 1926), Tuần Vũ Khánh Hòa, cây đại thụ tuồng Quảng Nam, thì nói một cách dễ hiểu, thực tế hơn, là hát ra bộ, vừa hát, vừa có bộ tịch, múa (vũ đạo). 


Đến năm 1958, Bộ Văn hóa có quyết định thống nhất gọi là hát bộ, hát bội, tuồng là Tuồng, như Nhà hát tuồng Trung ương (Hà Nội), Đoàn nghệ thuật tuồng Thanh Hóa, Nhà hát Tuồng cung đình Huế, Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà Nẵng), Nhà hát tuồng Đào Tấn (Bình Định), Nhà hát tuồng Khánh Hòa, Nhà hát nghệ thuật hát bội (TP. Hồ Chí Minh). Không sao. Miễn có tuồng tích, kịch bản vở diễn hay, nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên giỏi, biểu diễn các làn điệu tuyệt chiêu, không lai căng, chế biến, phù phép, giữ nguyên gốc bản sắc nghệ thuật sân khấu dân tộc, thì đó mới là nghệ thuật dân gian đích thực của làng nước ta xưa, đến nay vẫn tồn tại.

Tuồng có mặt ở xứ Quảng từ bao giờ? Sách Việt sử xứ Đàng Trong, của nhà sử học Phan Khoang (1906 - 1971), có đề cập tới chúa Sải vương Nguyễn Phúc Nguyên (1563 - 1635) Trấn thủ dinh trấn Thanh Chiêm (Thuận Quảng) có Đào Duy Từ là danh sĩ, hàm Nội tán đã khởi thảo vở tuồng Sơn Hậu, Nhà thơ Tố Hữu cho rằng vở tuồng này đạt đến cái Sublime (trên tuyệt vời, trên cái đẹp). Còn ông Lê Duẩn, xem xong, nói: "Cho đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, vẫn còn nguyên giá trị của nó", cho đến nay vẫn là vở tuồng cổ thuộc loại hay nhất. Sử liệu cũng ghi rằng, Đào Duy Từ là người có công xây dựng nghệ thuật tuồng ở nước ta. Đến năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu tổ chức diễn tuồng để chiêu đãi khách là nhà sư Thích Đại Sán

(Trung Quốc). Trong cuốn Hải ngoại ký sự, Thích Đại Sán diễn tả: "Nhà chúa hào hứng đánh một chiếc trống to để trước sàn diễn, giống như điểm nhịp cho diễn viên (các ngành kịch hát Trung Quốc không có trống chầu). Nhà sư cho đó làn điệu lạ, cách diễn cũng lạ, quan khách xem ai cũng tỏ vẻ hào hứng". Như thế, ở Thuận Hóa (Thừa Thiên Huế), Tuồng đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XVII. Sau nửa thế kỷ XVIII, Tuồng Bình Định đã phát triển đến mức có chức vụ Nhưng trưởng (tức người phụ trách một gánh tuồng). Ở tận Gia Định, vào thời điểm đó cũng đã có tuồng và rạp hát tuồng.

Gánh Tuồng Khánh Thọ, ở Tam Kỳ, Quảng Nam, có thể xuất hiện từ thời Gia Long (1802 - 1820), hoặc chậm nhất là thời Minh Mạng (1820 - 1841). Trên một tấm bia đá ở làng Khánh Thọ có ghi rằng, vào triều Minh Mạng, tu bổ xong đình làng, làm lễ khánh thành có mời gánh Tuồng đến diễn mấy đêm. Tương truyền, vua Tự Đức có xem gánh tuồng này biểu diễn và phán rằng: "Ca vũ nải Khánh Thọ giáo phường/ Bình xướng tất Quảng Nam trung thanh" (Múa, hát (hát bội) thì phải nói đến gánh hát Khánh Thọ/ Bình văn, xướng văn tất phải dùng tiếng Quảng Nam, được xem là trung thanh). Trong một bài văn tế Tổ nghề Tuồng Quảng Nam có câu: "Từ vua Minh Mạng xây dựng xong Thự viết thường, đến vua Tự Đức, bảo diễn Tuồng nên học theo tiếng trung thanh của Quảng Nam" (đây chỉ về âm sắc, chất giọng địa phương, êm ái, dễ nghe hơn hai nơi là Thừa Thiên Huế và Bình Định chăng).

Tuồng là nghệ thuật bác học, song rất gần với quần chúng lao động, là loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần, là bộ môn nghệ thuật diễn xướng có giá trị sâu sắc về kịch bản văn học (lời hát, lời thoại, thơ phú) về vũ điệu, âm nhạc, phục trang, cảnh trí. Tuồng là tích chuyện, là nhân vật, có đủ sắc thái hỉ, nộ, ái, ố, phản ánh, minh họa tính cách, thái độ, quan niệm sống, những vui buồn, ẩn uất, những ước mơ, khát vọng cháy bỏng của con người trước biến thiên, nghịch cảnh ở đời. Người trung, kẻ xu nịnh rạch ròi. Cái ác bị lên án, vạch mặt, trừ diệt. Cái tốt được ngợi ca, tôn vinh, thu phục nhân tâm. Đi xem một buổi diễn Tuồng cùng lúc thưởng thức giọng nam ai, nam bình, xuân nữ, tẩu mã, hát lý, hát khách, vuốt râu, đảo mắt, múa đao kiếm, cung thương, đi hài, là để khóc, cười, căm giận, hả dạ, reo vui, chia sẻ, cảm thông cùng nhân vật. Chỉ một khoảng sân khấu, hay chiếu tuồng vài chục mét vuông dưới bóng cây đa, bãi cỏ, sân đình hay rạp hát, trường hát, là cả một triều đình vua chúa xưa, một chiến trường ác liệt, một làng mạc, núi rừng, sông biển và những cuộc đấu trí, đấu tài cân não, hay những mối tình đẫm lệ, những đạo nghĩa hiếu trung, phò chánh trừ tà, hào khí yêu nước, thương nhà, dù cách điệu, ước lệ, hay tượng trưng đều hiện lên sống động, như cảnh thật đâu đó ngoài đời. Có lẽ vì tính chất độc đáo, đặc sắc đó, mà người xem, nghe Tuồng xứ Quảng có sự cảm nhận, thẩm thấu truyền đời như một lẽ tự nhiên.

Giáo sư Hoàng Châu Ký cho rằng: "Tuồng là nghệ thuật truyền thống lâu đời của dân tộc Việt và cũng là nghệ thuật "đặc sản" của nhân dân Quảng Nam". Món "đặc sản" ấy ra đời, lan tỏa, phát triển và tồn tại khắp làng xã ở Quảng Nam, nở rộ từ những năm 1860, xuất hiện nhiều bầu gánh như Nhưn Giai, Nhưn Bính, Nhưn Thảo, Nhưn Ất, Nhưn Thinh, Nhưn Bích, Nhưn Đà, Nhưn Thọ, Nhưn Đá, Nhưn Nguyên, Đội Tảo, Đội Nhất, Chánh ca, Phó ca... Nhiều thầy Tuồng kiệt xuất như: Bầu Thành ở Hòa Vang, ông Hai Bãi, Trùm Lánh ở Bàu Toa, ông Tỵ, Nhưn Ấm ở Tam Kỳ, ông Kiểm Phụng, Văn Phước Khôi, Năm Thiều, Lê Thử, Tư Bửu ở Đại Lộc, Bà Dần, Bà Liễu Quản Lan ở Tam Kỳ, Trần Hàn ở Quế Sơn, Thập Quảng ở Duy Xuyên, ông Mành, Cửu vị ở Tiên Phước, Ấm Diêu, Chánh Phẩm, Phó đệ, Phó Phương... đã đào tạo, dìu dắt nhiều đào kép hát chuyên nghiệp.

Ông Đội Tảo (Nguyễn Nho Túy), được các quan đầu tỉnh, huyện và công chúng ca ngợi là "Con rồng trên sân khấu". Nói về "Ngũ mỹ" (năm vẻ đẹp) của hát Tuồng xứ Quảng có: lão văn ông Phẩm, lão võ ông Đệ, vai kép ông Tảo, vai nịnh ông Lai, vai tướng ông Tùy, vai hài ông Khôi. Là những diễn viên đặc biệt xuất sắc khi đóng các vai vua, người già, tướng lĩnh, hề hài, nịnh thần, không diễn viên nào sánh được. Như Chánh Phẩm, đóng vai vua đói, khi lạc vào rừng, ông diễn và hát câu hát nam: "Tay vịn cành, suốt lá làm cơm" thật đến nỗi, có một bà lão đang xem Tuồng, ra mua tô cháo đem lên sân khấu cho vua tưởng là vua đói thật!. Ông Đội Tảo có 36 kiều cười (cười vui, cười hề, cười nịnh, cười chế giễu, cười buồn, cười đau, cười sảng...). Rất nhiều diễn viên giỏi Tuồng đều được các vua triều Nguyễn triệu ra kinh hát cho vua quan thưởng thức và phong hàm Chánh, Phó ca, hết lời khen ngợi, ban thưởng trọng vọng.

Nói đến Tuồng, người dân xứ Quảng đều biết và nhắc đến một số nhân vật kiệt hiệt trong lĩnh vực này, như cụ Tuần An Quán Nguyễn Hiển Dĩnh, khi làm Tuần vũ tỉnh Quảng Trị, bị giáng hai cấp vì lấy gỗ công xây dựng rạp hát, lấy tiền công quỹ nuôi diễn viên Tuồng. Lúc làm Tri huyện Hà Đông, mỗi sáng ra công đường, cụ bảo lính sắp hàng đứng hai bên, cụ ngồi vào ghế, cất giọng hát khách hoặc bạch một câu rồi xưng danh:

"Quyền Tri huyện Hà Đông

Ngã danh xưng Nguyễn Dĩnh"

Khi trở lại nơi đây làm việc, nhân dân địa phương bày tỏ lòng ngưỡng mộ cụ, có câu: "Nguyễn Dĩnh trùng lai thiên hữu nhãn/ Hồ Thiều bất khứ địa vô mô" (Nguyễn Dĩnh trở lại đây trời có mắt/ Hồ Thiều không đi khỏi đây thì đất không còn cỏ).

Một ông quan cá tính, thấm thía cái đau đời của một vị quan thanh liêm dưới triều Nguyễn mạt thời, cụ viết một câu cay đắng trong vở tuồng Phong Ba Đình: "Bị gậy ăn mày, võng lọng quan" (Võng lọng quan, cũng chỉ là ăn mày thực dân Pháp mà thôi). Khi đương chức cụ thường nói với các quan: "Tiến vô đại quan, thoái vi hưu quan", còn tôi: "Tiến vi quan, thoái vi bầu gánh".

Cụ từ quan về nhà mở trường dạy Tuồng, nghiên cứu, sáng tác vở diễn và diễn tuồng phục vụ công chúng. Khi dạy, truyền nghề cho học trò, cụ thường ngồi trước cái trống, cầm dùi, trò nào hát đúng, diễn khéo, cụ đánh thùng thùng, trò nào diễn sai, cụ đánh vào tang (cạnh) trống cắc, cắc, rồi nhắm mắt ngó lơ. Các thế hệ học trò của cụ, sau này đều là những diễn viên nổi tiếng khắp nước và được phong tặng danh hiệu dưới thời cách mạng như NSND Nguyễn Phẩm, Nguyễn Lai, Nguyễn Nho Túy, Ngô Thị Liễu, NSƯT Văn Phước Khôi, Tư Bửu, Vĩnh Huế, Nguyễn Thử... Người được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, là kịch tác gia Tống Phước Phổ, cháu cụ Dĩnh, đã viết hơn 100 kịch bản Tuồng, có những vở nổi tiếng như Tam Nữ đồ vương, Lam Sơn khởi nghĩa, Trưng Nữ Vương, An Tư Công chúa, Cờ trắng rừng xanh, Lục Vân Tiên, Phạm Công Cúc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương... Riêng cụ Nguyễn Hiển Dĩnh sáng tác trên 20 vở diễn mẫu mực như Dương Chấn Tử, Tam Hạ Nam Đường, Võ Hùng Vương, Lý Phụng Đình, Trầm Hương Các, v.v... Về sau này, có các ông Hoàng Châu Ký, Dũng Hiệp cũng soạn Tuồng.

Trong kháng chiến chống Pháp, từ những năm 1952, Đoàn Tuồng cách mạng đầu tiên Liên khu V ra đời, quy tụ gần như hầu hết các diễn viên tuồng từ các gánh hát ở Quảng Nam lên xây dựng vở diễn phục vụ nhân dân, bộ đội, cán bộ các tỉnh huyện khu V. Có những vở diễn "hiện đại" như "Chị Ngộ" của Nguyễn Lai được công chúng đón nhận nồng nhiệt. Khi xem diễn đến hồi tên sĩ quan Pháp quá tàn ác đối với chị Ngộ, khán giả căm phẫn hô vang đả đảo và có thứ gì trên tay đều ném lên sân khấu đòi giết tên Pháp. Năm 1967, trong kháng chiến chống Mỹ, Quảng Nam có Đoàn Tuồng giải phóng, có em chưa tới 15 tuổi, lại được NSƯT Tư Bửu về dạy nghề, sau ra Hà Nội, được các NSND Sáu Lai, Đội Tảo, Nguyễn Thị Liễu, GS Hoàng Châu Ký đào tạo bài bản.

Tết về xứ Quảng xem Tuồng, vì làng xã nào cũng có xuân kỳ, thu tế. Các lễ tiết này bao giờ cũng có diễn Tuồng ở đình làng, miếu thần, nhất là ngày Tết, thì nơi nào cũng dựng rạp diễn tuồng, có khi diễn cả tháng trời với những vở cổ nhiều hồi, nhiều lớp, xem là không dứt ra được, như xem các tuồng Tam Quốc, Tam hạ nam đường, Sơn Hậu, Hộ sanh đàn... Xem tuồng đến nỗi trong dân gian Quảng Nam có câu ca: "Trồng trầu thả lộn dây tiêu/ Con theo hát bội, mẹ liều con hư!". Có lẽ, cho đến nay Quảng Nam là nơi còn nhiều đội Tuồng, câu lạc bộ Tuồng nhiều nhất. Họ giữ nguyên cách hoạt động như ngày xưa, tự may cắt, dán phục trang, áo mão, gọt đẽo cung đao, sao chép các bổn tuồng cổ, khi hát có người sau màn nhắc từng câu chữ; và cũng tự nguyện đóng góp tiền nong cho các chi phí đêm diễn. Rạng ngày, họ lại ra đồng canh tác, hoặc đi tứ xứ làm đủ nghề để sinh sống. Niềm vui và hạnh phúc nhất của họ là được diễn tuồng trong mỗi dịp Tết đến, Xuân về hay hội hè nào đó trong năm. Vậy thôi!

Tôi nói, Tết về xứ Quảng xem Tuồng, là có nguồn căn. Nguồn căn đó là, trầm tích của sức sống văn hóa dân gian không dễ gì bật gốc, phai nhạt được ở vùng đất địa linh nhân kiệt này.

H.H.V
(tạp chí Non Nước số 252)

CÁC TIN KHÁC
Anh và em cùng già – Thơ Thanh Quế (15-02-2019)
Trung du thoáng gặp – Thơ Bùi Công Minh (14-02-2019)
Trong tĩnh lặng – Thơ Lê Anh Dũng (13-02-2019)
Trên cánh đồng trần gian – Thơ Ngân Vịnh (12-02-2019)
Cành mai ngày Tết – Thơ Nguyễn Văn Tám (11-02-2019)
Thoát tục - Truyện ngắn của Hoàng Hải Lâm (28-01-2019)
Về một người “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” - Bùi Văn Tiếng (25-01-2019)
Những lỗ thủng - Truyện ngắn của Phạm Đình Hải (24-01-2019)
Lửa bạc – Truyện ngắn của Kiều Duy Khánh (23-01-2019)
Con lợn trong văn hóa Việt - Huỳnh Thạch Hà (21-01-2019)
Hoàng Sa - Thơ Quang Kinh (19-01-2019)
Nhớ mùa Đông - Hà Nội – Thơ Nguyễn Văn Tám (17-01-2019)
Tôi thuộc về cánh đồng – Thơ Ngân Vịnh (16-01-2019)
Có một sớm mai - Thơ Lê Huy Hạnh (14-01-2019)
Mùa gió – Thơ Đinh Thị Như Thuý (11-01-2019)
Vườn thơm – Thơ Nguyễn Nhã Tiên (10-01-2019)
Thí dụ - Thơ Cẩm Lệ (09-01-2019)
Có những lúc - Thơ Thanh Quế (08-01-2019)
Ánh sáng đẹp - Thơ Nguyễn Nho Thuỳ Dương (07-01-2019)
Chiều đầu non – Thơ Lê Anh Dũng (03-01-2019)
Thứ bảy, ngày 16/02/2019
Tôi tự do, cho dù xung quanh tôi là những luật lệ gì. Nếu tôi thấy chúng có thể chấp nhận được, tôi chấp nhận chúng; nếu tôi thấy chúng quá khó chịu, tôi phá vỡ chúng. Tôi tự do bởi tôi biết bản thân tôi chịu trách nhiệm trước lương tri mình vì mọi điều t
Robert A Heinlein

Đừng âu sầu khi nói lời tạm biệt, lời tạm biệt là cần thiết trước khi ta có thể gặp lại nhau, và gặp lại nhau, cho dù sau khoảng thời gian ngắn ngủi hay sau cả một đời, là điều chắc chắn sẽ xảy ra với những người bạn hữu.
Richard Bach

Một người bạn cũng giống như ngôi sao bắc đẩu, bạn trông vào họ khi bạn lạc đường.
Khuyết danh

Tình yêu không không phải toàn bộ đều là cơn mê sảng, nhưng nó có rất nhiều điểm giống.
Thomas Carlyle

Thành công trong tình yêu không phụ thuộc nhiều vào việc tìm được người có thể làm bạn hạnh phúc bằng việc trốn thoát vô số người có thể làm bạn khổ sở.
Khuyết danh

Cũng như thung lũng cho ngọn núi chiều cao, khổ đau cho lạc thú ý nghĩa; cũng như mạch nước là nguồn của suối, nghịch cảnh sâu sắc có thể là châu báu.
William Arthur Ward

Sự mất mát khiến chúng ta trống rỗng - nhưng hãy học cách không để sự đau khổ đóng lại trái tim và tâm hồn mình. Hãy để cuộc đời đổ đầy lại bạn. Dưới đáy u sầu, dường như điều đó là không thể - nhưng những niềm vui mới đang chờ đợi để lấp đầy khoảng trống
Pam Brown

Hãy yêu tôi khi tôi ít xứng đáng với tình yêu ấy nhất, Bởi đó là lúc tôi thực sự cần nó.
Tục ngữ Thụy Điển

Đừng đếm những gì bạn đã mất, hãy quý trọng những gì bạn đang có và lên kế hoạch cho những gì sẽ đạt được bởi quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng tương lai có thể bù đắp cho mất mát.
Khuyết danh

Đôi lúc cũng cần thiết dừng chân trong cuộc hành trình theo đuổi hạnh phúc, và chỉ đơn giản là cảm thấy hạnh phúc.
Guillaume Apollinaire

Tôi, không phải tình huống, có sức mạnh làm tôi hạnh phúc hay bất hạnh ngày hôm nay. Tôi có thể chọn nó sẽ thế nào. Ngày hôm qua đã chết. Ngày mai còn chưa tới. Tôi chỉ có một ngày, Hôm nay, Và tôi sẽ hạnh phúc với nó.
Groucho Marx

Khi một cây sồi đổ, cả khu rừng vang vọng tiếng đổ của nó, nhưng hàng trăm hạt sồi được cơn gió thoảng qua lặng lẽ gieo.
Thomas Carlyle

Thứ duy nhất có thể cứu được thế giới là phục hồi nhận thức của thế giới. Đó là công việc của thi ca.
Allen Ginsberg

Tình yêu là trạng thái mà khi đó hạnh phúc của một người khác trở nên cực kỳ quan trọng đối với hạnh phúc của bạn.
Robert A Heinlein

Với những kẻ độc ác, mọi thứ đều là cái cớ.
Voltaire

Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet : Số 11/GP - BC Do Bộ thông tin và truyền thông , Cục Báo chí cấp ngày 10 tháng 01 năm 2008.
- Địa chỉ: K54/10 - Ông Ích Khiêm, Thành phố Đà Nẵng
- Điện thoại : 0511-3821434 - Fax: 0511-3519300,
- Tổng biên tập: Nguyễn Thị Thu Hương
- Email: lhvhntdanang@gmail.com - Website: vannghedanang.org.vn