GƯƠNG MẶT VĂN NGHỆ SĨ
Nhà thơ Tế Hanh: Hồn hậu, tinh tế trong những vần thơ

Với không ít người thường xuyên được tiếp xúc và sau khi đọc thơ của Tế Hanh đều không quá khó để nhận ra sự khác biệt đến mức tưởng chừng như đối lập giữa sự hồn hậu, tinh tế trong những vần thơ và cái vẻ bề ngoài 
ngu ngơ của ông. Hai thứ ấy dường như chẳng ăn nhập gì với nhau, nhưng nó vẫn kết hợp được một cách nhuần nhị trong con người này. Với nhà thơ Tế Hanh, câu châm ngôn: Nhìn mặt mà bắt hình dong, có vẻ như chẳng mấy hiệu nghiệm.
Nhà thơ Tế Hanh tên đầy đủ là Trần Tế Hanh, sinh ngày 20/6/1921 tại làng Đông Yên, phủ Bình Sơn, nay là xã Bình Dương, Bình Sơn, Quảng Ngãi. Cha ông là Trần Tất Tố, làm nghề dạy học và làm thuốc. Ông có bốn anh em, trong đó người em út là nhạc sĩ Trần Thế Bảo. 

Thuở nhỏ, ông học ở trường làng, rồi trường huyện. Năm 15 tuổi, ông ra học tại trường Khải Định (nay là trường Quốc học Huế). Vốn sẵn ham thích thơ ca, lại được nhà thơ Huy Cận chỉ đường, nên Tế Hanh bắt đầu tập tọng làm thơ từ khá sớm. Năm 1938, lúc 17 tuổi, Tế Hanh đã có bài thơ đầu tiên: Những ngày nghỉ học. Sau đó, ông tiếp tục làm thơ, rồi tập hợp thành tập Nghẹn ngào. Nào ngờ năm 1939, tập thơ này của ông đã được giải khuyến khích của Tự lực Văn đoàn.

Vào cuối thời kỳ phong trào Thơ Mới, năm 1941, Tế Hanh và một số bài thơ của ông như Quê hươngLời con đường quêVu vơƯớc ao... được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong Thi nhân Việt Nam, xuất bản năm 1942.

Sau đấy ít lâu, tháng 8/1945, Tế Hanh tham gia Mặt trận Việt Minh, công tác trong ngành văn hóa, giáo dục ở Huế, Đà Nẵng. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, ông là Ủy viên giáo dục trong Ủy ban lâm thời thành phố Đà Nẵng. Từ năm 1949-1954, Tế Hanh làm việc tại Chi hội Văn nghệ Liên khu V. Sau Hiệp định Genève, 1954 ông tập kết ra Bắc, công tác ở Hội Văn nghệ. Năm 1957, Tế Hanh là một trong số những người tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam và trong Ban Biên tập tuần báo Văn (tiền thân của báo Văn nghệ) của Hội. Nhiều năm sau đấy, ông còn là Ủy viên Ban chấp hành và Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam.

Vào những năm 80, mắt ông bị đau và mờ dần. Bệnh tật đã khiến ông liệt giường lúc mê lúc tỉnh trong nhiều năm. Ông qua đời vào lúc 12 giờ ngày 16 tháng 07 năm 2009, tại Hà Nội, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh xuất huyết não.

Trong cuộc đời cầm bút, nhà thơ Tế Hanh đã để lại một khối lượng tác phẩm

thơ khá đồ sộ, chủ yếu là thơ. Tuy nhiên, ngoài thơ, Tế Hanh còn là dịch giả thơ nổi

tiếng với nhiều tác phẩm của các nhà thơ lớn trên thế giới, viết tiểu luận phê bình văn học, thơ thiếu nhi...

Ông đã từng giành Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Nghệ thuật đợt I, năm 1996 cho các tập thơ: Lòng miền Nam, Gửi miền BắcTiếng sóngBài thơ tháng Bảy, Hai nửa yêu thươngKhúc ca mớiĐi suốt bài caTheo nhịp tháng ngàyCon đường và dòng sôngBài ca sự sống; Giải thưởng Phạm Văn Đồng do Hội Văn nghệ Liên khu V tặng.

*

Nhà thơ Tế Hanh luôn chiếm được cảm tình trong giới văn chương cùng thời và hậu thế. Nhà văn Nhất Linh, Chủ tịch Câu lạc bộ Tự lực văn đoàn đã có những nhận xét khá chuẩn xác về tài thơ của Tế Hanh ngay khi nhà thơ còn rất trẻ: Tế Hanh có rất nhiều hứa hẹn trở nên một thi sĩ có tài, ông có một linh hồn rất phong phú, có những rung động rất sâu sắc; và để diễn tả tâm hồn, ông có đủ nghệ thuật và cách đặt tìm câu chữ (1). Có lẽ đây là một nhận xét của một người vừa có tài nghệ thẩm thơ, vừa có quan hệ mật thiết với nhà thơ Tế Hanh.

Còn trong Thi nhân Việt Nam, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đánh giá cao Tế Hanh về độ tinh nhạy nắm bắt cảnh sinh hoạt thôn quê: Tế Hanh là một người tinh lắm, Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương. Người nghe thấy được cả những điều không hình sắc, không thanh âm như mảnh hồn làng, trên cánh buồm giương, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ, con đường quê nho nhỏ. Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi... (2)

Nhà nghiên cứu- phê bình văn học Vương Trí Nhàn chia cuộc đời sáng tác của Tế Hanh ra làm hai thời kỳ và ông không ngại đặt Tế Hanh ngang tầm với nhiều tên tuổi lớn trong làng thơ Việt: Trong thơ Việt Nam tiền chiến, ông chưa bao giờ tạo được một sự hấp dẫn lạ lùng như Hàn Mạc Tử hoặc Nguyễn Bính, cũng không có lúc nào làm chủ thi đàn như Thế Lữ hoặc Xuân Diệu. Nhưng ông vẫn có chỗ của mình... Tập Nghẹn ngào từng được giải thưởng Tự lực văn đoàn, là một minh chứng sinh động nhất cho điều ấy. Từ sau 1945, ông vẫn làm thơ đều đều, những tập thơ mỏng mảnh, giọng thơ không có gì bốc lên nồng nhiệt, nhưng được cái tình cảm hồn nhiên, và tập nào cũng có một ít bài đáng nhớ, khiến cho ngay sau Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu người ta nghĩ ngay đến Tế Hanh (3). Có thể nói đây là một nhận định, đánh giá tương đối khách quan về Tế Hanh.

*

Có người còn cho rằng, trong số các nhà thơ Việt Nam hiện đại, đặc biệt là những người từng bước ra từ phong trào Thơ Mới, Tế Hanh là một người có dáng vẻ thi sĩ hơn cả với đôi mắt nồng nàn lạ (4). Chính cái sự nồng nàn lạ ấy của ông, trong mắt mọi người luôn thấy ông ngơ ngác buồn, lúc thì xa xăm, khi thì bâng quơ không rõ ngọn ngành. Cặp mắt ấy luôn thường trực và ông mang theo trong suốt cuộc đời lúc làm thơ cũng như khi tiếp xúc với mọi người. Và chúng trở thành một nét đặc trưng trong mọi hành vi ứng xử của ông với thiên nhiên đất trời, với cuộc đời và với con người.

Theo các nhà tướng số học, người có vẻ ngoài ngu ngơ như Tế Hanh rất dễ thành đạt trên đường quan lộ. Với dáng vẻ bề ngoài như thế, người ta thấy ông không phải là người tham lam, ít mưu mô, thậm chí là người dễ bảo, nên đặt vào chức vị nào mà chẳng được. Lại nữa một người có tài thơ, nhưng cái tình của ông dường như đã bày hết lên mặt chữ, khiến ai để ý có thể thấy được hết gan ruột của ông qua từng con chữ dùng dắng thế, còn hơi sức đâu mà nghĩ ra chiêu trò nọ, mẹo mánh kia:

Gặp em câu cuối cùng chưa nói

buổi sớm qua rồi, sắp hết trưa...

Vừa thực lại vừa mộng

Vừa gần lại vừa xa

(Mùa thu Yanta)

Tôi đã từng được tiếp xúc, trò truyện với nhà thơ Tế Hanh vào những tháng năm cuối đời, thấy ông là một người hiền lành, từ ánh mắt nhìn, giọng nói, cử chỉ, thậm chí còn hơi rụt rè, nhút nhát. Ông nói rất chậm, vừa nói vừa nghĩ điều gì đấy, đang nói bỗng dưng im lặng, khiến người nghe cảm thấy lời nói của ông chẳng ăn nhập gì với ý nghĩ. Điều ấy không chỉ tạo nên một phong cách sống của riêng nhà thơ, mà còn góp phần tạo nên một phong cách thi ca đậm chất Tế Hanh. Ngay tập thơ đầu tay ông cũng đã đặt cho nó một cái tên rất khó nói ra Nghẹn ngào. Có thể nói sự nghẹn ngào hay khó nói ra, tính chất lấp lửng là một phẩm chất đặc trưng của con người Tế Hanh cũng như thơ ông. Từ tập thơ đầu tiên cho đến những tập thơ sau này, ở đâu chúng ta cũng dễ dàng tìm ra những câu thơ như thế:

Chiều chiều đến, tựa người bên cửa sổ

Đợi hồn nào trở lại vẩn vơ song

Hay nghe ngóng ý về trong tiếng gió,

Tôi dần dần khô héo với chờ mong

Đến bây giờ than ôi tôi vẫn nhớ,

Vẫn thấy gì thiếu thốn ở trong lòng!

(Nhớ)

Cảm giác nhớ mong của ông là có thật, thế nhưng nhớ mong cái gì thì lại không rõ ràng, chỉ biết là: Đợi hồn nào trở lại vẩn vơ song và Vẫn thấy gì thiếu thốn ở trong lòng.

Có một điều chắc chắn rằng, không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh và Hoài Chân chọn bốn bài thơ: Quê hương, Lời con đường quê, Ước ao  Vu vơ của Tế Hanh để in trong tập sách thẩm bình thơ rất nổi tiếng từ trước Cách mạng tháng Tám làThi nhân Việt Nam. Thực ra, đây chưa hẳn là bốn bài thơ hay nhất của Tế Hanh, nhưng chúng lại đem đến cho người đọc dễ dàng nhận ra phong cách thơ của ông. Chúng ta thử đặt bốn bài thơ cạnh nhau và đọc đi, đọc lại vài lần, sẽ không hề khó nhận ra mẫu số chung của chúng. Dù viết về hai mảng đề tài khác nhau: quê hương và tình yêu đôi lứa, nhưng cả bốn bài đều vừa rất thực lại vừa rất mộng. Sự lẫn lộn giữa thực và mộng trong con người nhà thơ cũng như trong phần lớn các bài thơ của Tế Hanh đã tạo nên một phong cách riêng, không trộn lẫn với bất kỳ ai, đem đến cho người đọc một sức gợi tiềm tàng.

Ở bài Quê hương ông viết:

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,

Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,

Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Và ở bài Con đường quê:

Tôi, con đường quê nhỏ chạy lang thang 

Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng 

Đến cuối thôn kia hơi cỏ vướng 

Hương đồng quyến rũ hát lên vang 

...

Tôi sống mê man tránh tẻ buồn 

Miệt mài, hể hả, đắm say luôn 

Tôi thâu tê tái trong da thịt 

Hương đất, hương đồng chẳng ngớt tuôn...

Cùng viết về một đề tài quê hương, ở mỗi bài có những chi tiết, hình ảnh thơ khác nhau, nhưng rất thực như: chiếc thuyền, cánh buồm vôi, màu nước xanh, cá bạc, hay con đường quê chạy đến cuối thôn, những đứa trẻ chạy lang thang, những tiếng hát trẻ thơ vang vọng khắp cả làng, hơi cỏ vướng. Bật nhú lên trên cái nền rất thực ấy là những cảm giác rất mơ hồ, đầy mộng tưởng như: chất muối thấm dần trong thớ vỏcái mùi nồng mặn quá, hương đất, hương đồng chẳng ngớt tuôn.

Còn ở bài Ước ao Tế Hanh đã tự thú rất chân thành:

Anh là kẻ say mê, nhưng nhút nhát; 

Không hiểu giùm, em lại nỡ cho anh 

Là không yêu, là một kẻ vô tình. 

Anh tức quá, đem lòng ao ước tệ: 

 

Nếu em chết! Chắc là anh có thể 

Tỏ mối tình lặng lẽ quá sâu thâm: 

Anh đến nơi em nghỉ giấc ngàn năm 

Ngồi điên dại sầu như cây liễu rủ 

 

Anh không uống, anh không ăn, không ngủ, 

Anh khóc than, than khóc đến bao giờ 

Nước mắt anh lầy lội cả nấm mồ 

Nhỏ từng giọt xuống thân em lạnh lẽo. 

 

Rồi anh chết, anh chết sầu, chết héo; 

Linh hồn anh thất thểu dỗi hồn em. 

Và ở đâu kia, ở cõi đời đêm 

Chắc em chẳng nghi ngờ tình anh nữa...

Chỉ vì tính nhút nhát mà người thơ phải thề non, hẹn biển cho đến chết. Ấy là sự chết sầu, chết héo của chàng thi sĩ đa tình này bị người yêu nghi ngờ tình anh thôi. Còn nếu em chất thật thì Anh đến nơi em nghỉ giấc ngàn năm/ Ngồi điên dại sầu như cây liễu rủ. Ai dám bảo người trông vẻ bề ngoài ngu ngơ như Tế Hanh lại không có một tình yêu mãnh liệt, đắm đuối như bất cứ chàng trai nào khi bị người yêu hiểu nhầm hay ngờ vực mình không yêu.

Sự ngơ ngác của nhà thơ không biết từ bao giờ đã trở thành gánh nặng tâm can với con người và với cuộc đời, nhất là khi ông đoái nhìn cảnh chia ly:

Những ngày nghỉ học tôi hay tới 

Đón chuyến tàu đi, đến những ga 

Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt 

Lòng buồn đau xót nỗi chia xa 

 

Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu 

Ngàn đời không đủ sức đi mau 

Có chi vướng víu trong hơi máy 

Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau 

...

Kẻ về không nói bước vương vương 

Thương nhớ lan xa mấy dặm đường 

Lẽo đẽo tôi về theo bước họ 

Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương

Nhớ một ai đó hay một cái gì cụ thể cũng đã quí và khổ sở lắm rồi. Đằng này nhà thơ lại ngẩn ngơ nhớ bốn phương. Đúng là nhớ kiểu này chỉ có ở chàng thi sĩ đa tình Tế Hanh mà thôi.

Tác giả Cao Huy Thuần trong bài viết Nhớ Tế Hanh nhân ngày giỗ đầu của nhà thơ, in trên TuanVietnam đã rất có lý khi ông cho rằng: Thực và mộng cứ vậy mà gặp nhau, hỏi han nhau, sóng đôi với nhau, đôi lúc gây nhau. Cũng như buồn và vui, im và nói, chúng ẩn rồi hiện như một nỗi lòng khắc khoải không nguôi. Tuồng như khi anh thực là anh phải thực. Khi anh vui là anh phải vui. Khi anh hùng hồn là anh phải hùng hồn. không phải anh dối lòng đâu! Có ai thật với thơ như anh! Thật đến não lòng. Nhưng rồi cũng tuồng như khi anh buồn thì anh rất sâu, khi anh im là anh rất thực. Buồn, anh không cần biện minh. Vui , anh phải tuyên bố. Nói, anh phải tìm chữ. Im, ấy là lúc anh sống với mình.

Có một cách thứ ba nữa mà, lạ quá, dù ở ngoài đời hay ở trong thơ, Tế Hanh làm ai cũng chú ý, dường như đây mới là nét đặc biệt của riêng anh, cá tính của anh: anh ít nói, nói nửa chừng, nói nhát gừng, chưa nói đã im, miệng nói mà đầu để ở đâu đâu, như không phải đang nói với người đối diện mà nói với cái suy nghĩ vừa hiện ra nửa chừng trong đầu (5).

Thơ Việt từ cổ chí kim dễ có đến cả trăm, nghìn người làm. Có người suốt cả đời hì hục viết mà chỉ dừng lại ở cữ người biết làm thơ. Còn có người mới chỉ đặt bút lần đầu tiên đã khiến người khác cảm nhận được ngay chất thi sĩ chứa trong tâm hồn người ấy. Tế Hanh thuộc tuýp người thứ hai. Tuy nhiên chất thi sĩ không phải lúc nào cũng là bà đỡ cho sự thành công đối với mọi tác phẩm thi ca. Nó là yếu tố trời phú cho mỗi người, còn để có một sự nghiệp thi ca được cộng đồng thừa nhận, chắc chắn sẽ còn cần đến nhiều yếu tố khác nữa.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin mượn lời trong một bài viết của Chế Lan Viên khá chính xác về cái tạng của Tế Hanh, về bầu khí nuôi dưỡng thơ Tế Hanh: Dù anh viết khá hay về biển, biển trong bão dữ, nghĩ đến anh, tôi vẫn nghĩ đến cái êm đềm của những dòng sông. Chim anh viết hay, không phải hải âu mà là chim én. Anh có thể tả mùa hè rực rỡ nhưng hình như anh xúc động nhất mùa thu... Nếu vào trong khu vườn, Xuân Diệu sẽ ngoạm vào các trái hồng lẫn trái xanh, Huy Cận lắng nghe chất nhựa trên cành, người nào đó sẽ hì hục tìm thơ trong bộ rễ âm thầm, còn với Hanh thì màu xanh của lá cũng đủ cho anh hạnh phúc (6)./. 

Viên An
(vanhocquenha.vn) 

--------------------------

Tham khảo

(1). Nhất Linh viết khi công bố giải vào năm 1939.

(2). Thi nhân Việt Nam- Hoài Thanh và Hoài Chân. Nxb Văn học, H, 2010.

(3). Cây bút, đời người- Vương Trí Nhàn- Tập chân dung văn học. Nxb Hội Nhà Văn, H, 2007.

(4). Thi nhân Việt Nam- Hoài Thanh- Hoài Chân. Nxb Văn học, H, 2010.

(5). Nhớ Tế Hanh. Cao Huy Thuần. TuanVietnam.net, số ra ngày 27/1/2011

(6) Tế Hanh hay Thơ và Cách mạng - Tuyển tập Tế Hanh, NXB Văn học, 1987.

CÁC TIN KHÁC
NSƯT Lê Tứ: Nặng lòng với sân khấu (02-12-2019)
Nhà văn với tấm lòng trong sáng (25-11-2019)
Cố nhạc sư - nghệ sĩ nhân dân Vũ Tuấn Đức: Một đời người gắn bó với âm nhạc dân tộc (18-11-2019)
Nhà văn DiLi - Mỗi trải nghiệm một bài viết (14-11-2019)
Nhà văn trinh thám xuất sắc của Nhật Bản (11-11-2019)
"Đối thoại" với nhà văn Nguyễn Minh Châu (04-11-2019)
Họa sĩ Nguyễn Xuân Hoàng: Cuộc chơi khó của những tay chơi hiếm (21-10-2019)
Nhà thơ Ngân Vịnh: Thơ là nơi gửi gắm khát khao...- Đinh Thị Trang (14-10-2019)
NSND Lê Huân - Với những đóng góp cho nghệ thuật Múa - Hồ Thị Thùy Trang (07-10-2019)
NSND Thế Anh: Dang dở một giấc mơ 'Bảo tàng điện ảnh' (30-09-2019)
Lưu Quang Vũ - bài hát còn dang dở (23-09-2019)
Nhà văn Nguyễn Hiếu: Đầy ắp đam mê cho sân khấu (16-09-2019)
Họa sĩ Bửu Chỉ - Đi tìm ý nghĩa thời gian của người (09-09-2019)
Nhà thơ Bế Kiến Quốc: Hãy nhìn anh như một dòng sông luôn luôn chảy/ luôn luôn đi tới (03-09-2019)
NSND Doãn Châu: Sống là không ngừng hy vọng (27-08-2019)
70 năm Ngày sinh nhạc sĩ An Thuyên: Người mang hồn quê vào ca khúc (16-08-2019)
Nhà thơ Phan Vũ: Gã đầu trần thơ thẩn đường mưa… (12-08-2019)
Danh nhân Đào Tấn: Một đời không ít thăng trầm... (05-08-2019)
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Mỹ Dũng và biển trong chúng ta (29-07-2019)
Nhà văn Khuất Quang Thụy: Sống mới khó làm sao! (22-07-2019)
Thứ hai, ngày 09/12/2019
Hãy mơ như thể bạn sẽ sống mãi và hãy sống như thể bạn sẽ chết hôm nay.
James Dean

Hướng ngược gió, càng hợp để bay, tôi không sợ ngàn vạn người ngăn cản, chỉ sợ chính bản thân mình đầu hàng.
Khuyết danh

Tôi tự do, cho dù xung quanh tôi là những luật lệ gì. Nếu tôi thấy chúng có thể chấp nhận được, tôi chấp nhận chúng; nếu tôi thấy chúng quá khó chịu, tôi phá vỡ chúng. Tôi tự do bởi tôi biết bản thân tôi chịu trách nhiệm trước lương tri mình vì mọi điều t
Robert A Heinlein

Đừng âu sầu khi nói lời tạm biệt, lời tạm biệt là cần thiết trước khi ta có thể gặp lại nhau, và gặp lại nhau, cho dù sau khoảng thời gian ngắn ngủi hay sau cả một đời, là điều chắc chắn sẽ xảy ra với những người bạn hữu.
Richard Bach

Một người bạn cũng giống như ngôi sao bắc đẩu, bạn trông vào họ khi bạn lạc đường.
Khuyết danh

Tình yêu không không phải toàn bộ đều là cơn mê sảng, nhưng nó có rất nhiều điểm giống.
Thomas Carlyle

Thành công trong tình yêu không phụ thuộc nhiều vào việc tìm được người có thể làm bạn hạnh phúc bằng việc trốn thoát vô số người có thể làm bạn khổ sở.
Khuyết danh

Cũng như thung lũng cho ngọn núi chiều cao, khổ đau cho lạc thú ý nghĩa; cũng như mạch nước là nguồn của suối, nghịch cảnh sâu sắc có thể là châu báu.
William Arthur Ward

Sự mất mát khiến chúng ta trống rỗng - nhưng hãy học cách không để sự đau khổ đóng lại trái tim và tâm hồn mình. Hãy để cuộc đời đổ đầy lại bạn. Dưới đáy u sầu, dường như điều đó là không thể - nhưng những niềm vui mới đang chờ đợi để lấp đầy khoảng trống
Pam Brown

Hãy yêu tôi khi tôi ít xứng đáng với tình yêu ấy nhất, Bởi đó là lúc tôi thực sự cần nó.
Tục ngữ Thụy Điển

Đừng đếm những gì bạn đã mất, hãy quý trọng những gì bạn đang có và lên kế hoạch cho những gì sẽ đạt được bởi quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng tương lai có thể bù đắp cho mất mát.
Khuyết danh

Đôi lúc cũng cần thiết dừng chân trong cuộc hành trình theo đuổi hạnh phúc, và chỉ đơn giản là cảm thấy hạnh phúc.
Guillaume Apollinaire

Tôi, không phải tình huống, có sức mạnh làm tôi hạnh phúc hay bất hạnh ngày hôm nay. Tôi có thể chọn nó sẽ thế nào. Ngày hôm qua đã chết. Ngày mai còn chưa tới. Tôi chỉ có một ngày, Hôm nay, Và tôi sẽ hạnh phúc với nó.
Groucho Marx

Khi một cây sồi đổ, cả khu rừng vang vọng tiếng đổ của nó, nhưng hàng trăm hạt sồi được cơn gió thoảng qua lặng lẽ gieo.
Thomas Carlyle

Thứ duy nhất có thể cứu được thế giới là phục hồi nhận thức của thế giới. Đó là công việc của thi ca.
Allen Ginsberg

Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet : Số 11/GP - BC Do Bộ thông tin và truyền thông , Cục Báo chí cấp ngày 10 tháng 01 năm 2008.
- Địa chỉ: K54/10 - Ông Ích Khiêm, Thành phố Đà Nẵng
- Điện thoại : 0511-3821434 - Fax: 0511-3519300,
- Tổng biên tập: Nguyễn Thị Thu Hương
- Email: lhvhntdanang@gmail.com - Website: vannghedanang.org.vn