SÁNG TÁC
Đôi điều về tính chất lưu dân trong ca dao Quảng Nam - Đà Nang – Bùi Văn Tiếng

1. Dường như người tiên phong sử dụng khái niệm lưu dân để gọi những cư dân Đại Việt đầu tiên đến khai sơn phá thạch khẩn ruộng lập làng trên vùng đất từ Nam Trung Bộ trở vào là nhà Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân - qua cuốn khảo luận “Khi những lưu dân trở lại” của ông xuất bản lần thứ nhất năm 1967. Theo Nguyên Văn Xuân, những tiên dân này "hầu hết là dân nghèo tù tội, hành khất, hạng lưu dân thoát vùng đất cũ với hy vọng của kẻ đánh bạc chẵn lẻ: hoặc mất, hoặc được tất cả, chứ dễ gì người xưa mà đoạn tuyệt mồ mả ông bà để tha phương cầu thực (...). 


Có lẽ họ chết nửa tấm lòng khi phải vĩnh viễn rời quê hương, nhưng cũng mang niềm hy vọng thoát ly đời sống khốn khổ. Gần đây một nhà nghiên cứu người Trung Quốc là Lục Đức Dương, trong cuốn sách viết về lưu dân Trung Hoa, cũng đưa ra cách hiểu tương tự: "Lưu dân là chỉ những người gặp tai hoạ tự nhiên, tai nạn xã hội hoặc rất nhiều nguyên nhân khác, để tránh nạn cầu sinh mà rời bỏ quê quán, lưu Ịạc tha hương (...) Đương nhiên, rời bỏ quê hương chôn nhau cắt rốn của mình, trong rất nhiều trựờng hợp mà nói quyết không phải là cam tâm tình nguyện, mà chủ yếu là vạn bất đắc dĩ, không biết làm sao (...). Lưu dân rời bỏ quê quán, lưu lạc tha hương thì mục đích là gì? Để tránh nạn, cầu sinh. Ý nghĩa tránh nạn rất đơn giản, tức trốn tránh tai nạn. Ý nghĩa cầu sinh thì có hai mức độ. Mức độ thứ nhất là mong được sinh tồn, mức độ thứ hai là tìm cuộc sống mới. Mong được sinh tồn thì thể hiện tính bị động nhiều hơn, tìm cuộc sống mới thì thể hiện tinh thần tiến thủ tích cực của lưu dân. Đối chiếu cách hiểu nêu trên với thực tế Quảng Nam - mở rộng bờ cõi về phương Nam, có thể thấy nét tâm lý nổi bật của lưu dân Quảng Nam - Đà Nẵng (nói rộng ra là lưu dân Đàng Trong) là khát vọng được đổi đời luôn đi cùng với nỗi nhớ khôn nguôi về quê cha đất tổ. Bằng chứng của nỗi nhớ cố hương cháy bỏng ấy là khi chuyển cư vào lập nghiệp nơi vùng biên viễn xa xăm, mỗi lưu dân đất Quảng đều mang trong mình chút lưng vốn văn học dân gian của dân tộc. Và dẫu khó lòng tách bạch trong tâm hồn người Quảng bây giờ đâu là phần lưng vốn văn học dân gian của dân tộc ông cha xưa mang theo làm hành trang trên đuờng Nam tiến và đâu là phần văn học dân gian bản địa mới được phỏng tác hoặc sáng tác tại chỗ qua mấy trăm năm, nhưng có một diều rất dễ cảm nhận là tính chất lưu dân thường hiện lên khá đậm nét trong văn học dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, nhất là trong ca dao - khúc hát tâm tình của những con người xa xứ.

2.Tính chất lưu dân trong ca dao Quảng Nam - Đà Nẳng trước hết thể hiện ở chỗ, trong thời gian còn chân ướt chân ráo nơi đất khách quê người, chắc rằng những tiên dân xứ Quảng vẫn cứ hát bằng chất giọng đàng ngoài quen thuộc chứ chưa phải chất giọng đặc sệt Quảng Nam sau này, và có lẽ câu hát đầu tiên của người xa xứ vẫn là câu hát ngày xưa bên dòng sông Mã, sông Hồng: "Đêm qua ra đứng bờ ao - Trông cá cá lặn trông sao sao mờ” (1) Buồn trông con nhện giăng tơ - Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai". “Trên trời có đám máy xanh - Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng - Ước gì anh lấy được nàng - Để anh mua gạch Bát Tràng về xây - Xây dọc rồi lại xây ngang - Xây hồ bán nguyệt cho nàng chao chân”. "Núi cao chi lắm núi ơi - Che bóng mặt trời khuất mặt người thương” hay " Trèo lên cây bưởi hái hoa - Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân - Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc - Em có chồng anh tiếc lắm thay”. “Ba đồng một mớ trầu cay - Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không - Bây giờ em đã có chồng - Như chim vào lồng như cá cắn câu - Cá cắn câu biết đâu mà gở - Chim vào lồng biết thuở nào ra"... Cho nên không có gì lạ khi bắt gặp trong ca dao Quảng Nam - Đà Nẵng nhiều câu hát thuần túy Đàng Ngoài, còn nguyên gốc chính bản và thường rất hay. Cũng dễ hiểu thôi, đường xa vạn dặm đâu có điều kiện mang nhiều, bởi vậy mỗi lưu dân phải chọn mang theo những gì là tinh hoa nhất; vả lại cái gì hay mới dễ khắc sâu vào ký ức con nguời. Dần dà để phù hợp hơn với cảnh ngộ mới, họ có nhu cầu thay lời đổi chữ, thêm mắm dặm muối vào câu hát hôm qua, và đến một ngày kia, cuộc sống vừa bám-trụ-giữ- đất vừa Quảng-Nam-mở-cõi có quá nhiều điều khiến họ phải suy ngẫm sâu xa, phải tìm cách bộc lộ giãi bày, đòi hỏi họ phải tự mình sáng tác những câu hát của chính hôm nay.

Tính chất lưu dân trong ca dao Quảng Nam - Đà Nẵng còn thể hiện qua cái tâm trạng mà Lục Đức Dương gọi là "vạn bất đắc dĩ, không biết làm sao (khi các lưu dân buộc phải) rời bỏ quê quán, lưu lạc tha hương. Với tâm trạng ấy, vừa đặt chân lên miền đất mới, họ không thể không cảm thấy ngán ngẫm cho thân phận mình: "Ra đi thì sự đã liều - Mưa mai không biết nắng chiều nào hay”. Đất Quảng trong mắt họ buổi đầu dường như hoang vắng: "Một mai mai một ngó chừng - Ngó truông truông vắng ngó rừng rừng cao"; và ở nơi này mọi thứ đêu thấy lạ:" Tới đây sông nước lạ lùng-con chim kêu phải sợ con cá vùng phải kiêng", hay "Tới đây lạ khách khó chào - Lạ trầu khó rọc, lạ dao khó cầm", hoặc "Tới đây lạ cảnh lạ quê - Anh em cũng lạ bốn bề người dưng - Người thương không thấy người thương - Quanh đi quẩn lại nhớ cố hương thêm sầu... Nghĩa là buổi đầu mọi thứ đều gợi nhớ, gợi thương. Nhớ thương đến mức không thể chỉ bộc bạch chung chung như khi còn ở quê nhà, kiểu lý chiều chiều: "Chiều chiều ra ngõ ngó mong - Ngõ thì thấy ngõ người không thấy người', "Chiều chiều ra đứng ngõ sau - Thấy cây khế ngọt mà đau đớn lòng”, "Chiều chiều ra ngắm sông sâu - Thấy dòng nước chảy dạ đau từng hồi”... Cũng là lý chiều chiều nhưng giờ đây thương nhớ phải được giãi bày cụ thể hơn, khắc sâu hơn cái khoảng không nghìn trùng cách trở giữa hai phương trời:"Chiều chiều mây phủ Sơn Chà - Lòng ta nhớ bạn nước mắt và lộn cơm – Vẫy vùng như cá trong nơm - Sớm mai Nam ta trông bạn buổi chiều Nồm bạn trông ta”.

4. Có điều cuộc sống đương thời luôn đặt ra cho lưu dân đất Quảng nhiều câu hỏi lớn, chẳng hạn cam chịu nhớ thương mà chấp nhận ở lại với cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, hay tìm sự bằng an để giũ bỏ quay với cái-quen-xưa-bao-đời-vẫn- vậy. Và câu trả lời của người Quảng là: "Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng - Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi - Thương cha nhớ mẹ thời về - Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thời đừng. Không phải đừng về mà đừng quay về, đừng hồi hương, bởi giờ đây đã có thêm một quê hương! Và đâu chỉ có thêm một quê hương, còn có thêm một người...chờ đợi nữa: ''Anh về ngoài nớ có nhớ em không? - Trong ni dạ tưởng lòng trông anh hoài”. Rồi có lẽ vì vậy mà dẫu ''Ngó lên ngó xuống thì vui - Ngó về quê mẹ ngậm ngùi nhớ thương”, nghĩa là dẫu vẫn còn nguyên nỗi nhớ quê như ngày mới đến nhưng những lưu dân đất Quảng giờ đây cũng bắt đầu tìm thấy được niềm vui. Chính nhờ sống trong thế giới những cái-lạ-nay-chưa-kịp-định-hình, người Quảng xưa có nhu cầu và điều kiện đổi mới cách nhìn, cách nghĩ. "Ra đi mẹ có dặn dò - Sông sâu chớ lội đò đầy đừng qua”, kinh nghiệm sống khôn ngoan đó giờ đây cơ hồ không còn thích hợp nữa. Cuộc sống giờ đây đòi hỏi con người phải biết tư duy kiểu khác: "Sông sâu không lội thì trưa - Đò đầy không xuống ai đưa một mình”. Buổi đầu nơi xứ lạ quê người, lưu dân đất Quảng vẫn chưa thoát khỏi những tư duy quen thuộc song đã lỗi thời, chẳng hạn như tư duy ''Trâu ta ăn cỏ đồng ta – Đừng ham cỏ tốt ăn qua đồng người”... Cho nên mới từng có cách nghĩ: ''Bạn vàng chơi với bạn vàng-Đừng chơi bạn vện ra đàng cắn nhau”, và đó mới thực sự là cơ sở tư tưởng tạo nên mong ước lấy chồng gần của những cô gái đương thời: "Tình em muốn lấy chồng gần-Đương khi nhớ mẹ chạy trần cũng xong”, chứ không chỉ do xuất phát từ lòng hiếu thảo. Thế nhưng qua thời gian, cũng có lúc và cũng có người tư duy kiểu khác:" Tình em muốn lấy chồng nguồn - Ngồi trên ngọn gió có buồn cũng vui”... Và nhờ biết tư duy kiểu khác mà thái độ ứng xử với cái lạ ở người Quảng lúc này không giống khi vừa mới dến: Tay ta cầm cần câu trúc ống câu thau - muốn câu con cá biển chớ cá bàu thiếu chi”, hay “ Lên non tìm con chim lạ - Ở dưới phố phường chim chạ thiếu chi”. Từ chỗ sợ cái lạ -“con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kiêng”- tới chỗ đi tìm cái lạ là cả một bước tiến dài trong tư duy của tiên dân đấtQuảng. Có thể nói câu ca  dân gian “ Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm – Rượu hồng đào chưa nhắm đà say” cực tả sự khát khao cái mới, nhạy cảm với cái mới của người Quảng.  nhưng không phải của người Quảng nói chung mà là người Quảng đã vượt qua cái thưở ban đầu... xa xứ ấy.

5. Ngày xưa khi còn ở quê nhà, những người đàn ông thích phiêu bạt được coi là có máu giang hồ - chỉ cần đến với sông hoặc với hồ thôi là đã xa lắm luỹ tre làng. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu với tư duy người Việt vốn chưa quen với mênh mông biển rộng. Bây giờ thì khác rồi. Biển vào cả trong những lời yêu: "Bao giờ cho sóng bỏ gành - Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em”, hay "Thương chi thương dại thương ngây - Thương cá dưới biển thương mây trên trời”, hay "Người ta câu biển câu sông - Tôi nay câu lấy tấm lòng người dưng; thậm chí ở đây người đàn bà trong cơn sinh nở còn được hình dung như là đang một mình đi giữa sóng gió biển khơi: "Đàn ông đi biển có đôi - Đàn bà đ biển mồ côi một mình”. Cách so sánh độc đáo và mới mẻ ấy chỉ có thể là của những người chấp nhận gắn bó đời mình với biển. Tất nhiên không phải như vậy là đã hết nỗi sợ cố hữu về biển, chẳng hạn nếu được chọn lựa, các cô gái Quảng chắc sẽ không chọn biển: "Có chồng nghề ruộng em theo - Có chồng nghề biển hồn treo cột buồm". Thật ra suy cho cùng đó cũng chỉ là nỗi sợ manq đầy nữ tính, bởi các chàng trai Quảng chí để mười phương thì đâu có nghĩ như vậy "Làm trai đi biển đi sông - Vô đây gặp bãi cát nông mà buồn”. Có thế nói cái khẩu khí này vừa tự hào nam tính vừa tự hào Nam tiến - được hiểu là tự hào về than phận lưu dân phương Nam. Không tự hào về thân phận lưu dân phương Nam, người Quảng khó lòng có được những câu ca khẳng định thân phận mình như kiểu "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm - Rượu hồng đào chưa nhấm đà say", hoặc "Học trò trong Quảng ra thi – Thấy cô gái Huế chân đi không đành”... Xin nói thêm là nhìn từ góc độ khẳng định thân phận, cậu "Học trò trong Quảng ra thi - Thấy cô gái Huế chân đi không đành" sâu sắc hơn nhiều so với dị bản "Học trò trong Quảng ra thi - Mấy cô gái Huế chân đi không đành". Bởi lẽ đuợc mấy cô gái Huế ngưỡng mộ, chắc gì nhũng cậu học trò xứ Quảng kia đã cảm thấy hào hứng bằng việc chính mình trở thành chủ thể thưởng thức thẩm mỹ, trực tiếp tôn vinh cái Đẹp. Thì còn gì đáng tự hào bằng cảnh con cháu của những lưu dân chân đất áo vải lam lũ làm ăn ngày nào giờ đây không chỉ được đi học mà còn được lai kinh ứng thí sau khi đạt một trình độ học vấn nhất định, và không chỉ lai kinh ứng thí mà còn từng nổi tiếng học giỏi đỗ đạt cao, hơn thế nữa không chỉ nổi tiếng học giỏi đỗ đạt cao mà còn nổi tiếng hào hoa, biết sững sờ mê đắm cô gái Huế - hiện thân của cái Đẹp thiếu nữ - cái Đẹp hoàn mỹ nhất trong vô vàn cái Đẹp của tạo hóa. Mà khả năng biết yêu say đắm cái Đẹp, biết tôn thờ cái Đẹp cũng chính là một trong những phẩm chất đích thực và ngời sáng nhất.

B.V.T

 

 

(1)Nguyễn Văn Xuân - Khi những lưu dân trở lại - In lại trong Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân, Nxb. Đà Nẵng, 2002, trang 544, 545 .

(2)Xem Lục Đức Dương - Lịch sử lưu dân (Lưu dân sử), bản dịch tiếng Việt của Cao Tự Thanh, Nxb. Trẻ, 2001, trang 14, 17.

(3)Xem Bùi Văn Tiếng - Tổng quan Văn học dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 1/2002.

CÁC TIN KHÁC
Nghị quyết số 43-NQ/TW nhìn từ góc độ văn học nghệ thuật - Bùi Văn Tiếng (22-07-2019)
Nhớ cây rơm vàng trước ngõ - Trần Nguyên Hạnh (19-07-2019)
Những cơn mưa không hẹn trước mùa - Trần Trình Lãm (18-07-2019)
Tìm phố - Nguyễn Nho Khiêm (17-07-2019)
Giông gió thổi qua làng - Ngân Vịnh (16-07-2019)
Thực trạng và những đặc trưng trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của ngư dân Đà Nẵng - Huỳnh Thạch Hà (15-07-2019)
Vi vút cánh diều - Lê Huy Hạnh (12-07-2019)
Sông Hàn tuổi mười tám - Bùi Công Minh (11-07-2019)
Bị bỏ quên - Đinh Lê Vũ (10-07-2019)
Hoàng hôn Cà Mau - Nguyễn Văn Tám (09-07-2019)
Khi người khác - Thanh Quế (08-07-2019)
Đóng băng trong thành phố - Nguyễn Thị Anh Đào (05-07-2019)
Một khúc với hoàng hôn - Nguyễn Nhã Tiên (04-07-2019)
Đơn giản chỉ là sự vắng mặt - Đinh Thị Như Thúy (03-07-2019)
Mùa hè của tuổi thơ tôi - Vũ Ngọc Giao (02-07-2019)
Phước Trà một thuở - Nguyễn Bá Thâm (28-06-2019)
Chuyển mùa - Nguyễn nhã Tiên (27-06-2019)
Cánh diều tuổi thơ - Trần Nguyên Hạnh (26-06-2019)
Chiêm bao gặp Kiều - Nguyễn Nho khiêm (25-06-2019)
Hoa niên trên trời - Phạm Thị Hải Dương (24-06-2019)
Thứ hai, ngày 22/07/2019
Tôi tự do, cho dù xung quanh tôi là những luật lệ gì. Nếu tôi thấy chúng có thể chấp nhận được, tôi chấp nhận chúng; nếu tôi thấy chúng quá khó chịu, tôi phá vỡ chúng. Tôi tự do bởi tôi biết bản thân tôi chịu trách nhiệm trước lương tri mình vì mọi điều t
Robert A Heinlein

Đừng âu sầu khi nói lời tạm biệt, lời tạm biệt là cần thiết trước khi ta có thể gặp lại nhau, và gặp lại nhau, cho dù sau khoảng thời gian ngắn ngủi hay sau cả một đời, là điều chắc chắn sẽ xảy ra với những người bạn hữu.
Richard Bach

Một người bạn cũng giống như ngôi sao bắc đẩu, bạn trông vào họ khi bạn lạc đường.
Khuyết danh

Tình yêu không không phải toàn bộ đều là cơn mê sảng, nhưng nó có rất nhiều điểm giống.
Thomas Carlyle

Thành công trong tình yêu không phụ thuộc nhiều vào việc tìm được người có thể làm bạn hạnh phúc bằng việc trốn thoát vô số người có thể làm bạn khổ sở.
Khuyết danh

Cũng như thung lũng cho ngọn núi chiều cao, khổ đau cho lạc thú ý nghĩa; cũng như mạch nước là nguồn của suối, nghịch cảnh sâu sắc có thể là châu báu.
William Arthur Ward

Sự mất mát khiến chúng ta trống rỗng - nhưng hãy học cách không để sự đau khổ đóng lại trái tim và tâm hồn mình. Hãy để cuộc đời đổ đầy lại bạn. Dưới đáy u sầu, dường như điều đó là không thể - nhưng những niềm vui mới đang chờ đợi để lấp đầy khoảng trống
Pam Brown

Hãy yêu tôi khi tôi ít xứng đáng với tình yêu ấy nhất, Bởi đó là lúc tôi thực sự cần nó.
Tục ngữ Thụy Điển

Đừng đếm những gì bạn đã mất, hãy quý trọng những gì bạn đang có và lên kế hoạch cho những gì sẽ đạt được bởi quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng tương lai có thể bù đắp cho mất mát.
Khuyết danh

Đôi lúc cũng cần thiết dừng chân trong cuộc hành trình theo đuổi hạnh phúc, và chỉ đơn giản là cảm thấy hạnh phúc.
Guillaume Apollinaire

Tôi, không phải tình huống, có sức mạnh làm tôi hạnh phúc hay bất hạnh ngày hôm nay. Tôi có thể chọn nó sẽ thế nào. Ngày hôm qua đã chết. Ngày mai còn chưa tới. Tôi chỉ có một ngày, Hôm nay, Và tôi sẽ hạnh phúc với nó.
Groucho Marx

Khi một cây sồi đổ, cả khu rừng vang vọng tiếng đổ của nó, nhưng hàng trăm hạt sồi được cơn gió thoảng qua lặng lẽ gieo.
Thomas Carlyle

Thứ duy nhất có thể cứu được thế giới là phục hồi nhận thức của thế giới. Đó là công việc của thi ca.
Allen Ginsberg

Tình yêu là trạng thái mà khi đó hạnh phúc của một người khác trở nên cực kỳ quan trọng đối với hạnh phúc của bạn.
Robert A Heinlein

Với những kẻ độc ác, mọi thứ đều là cái cớ.
Voltaire

Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet : Số 11/GP - BC Do Bộ thông tin và truyền thông , Cục Báo chí cấp ngày 10 tháng 01 năm 2008.
- Địa chỉ: K54/10 - Ông Ích Khiêm, Thành phố Đà Nẵng
- Điện thoại : 0511-3821434 - Fax: 0511-3519300,
- Tổng biên tập: Nguyễn Thị Thu Hương
- Email: lhvhntdanang@gmail.com - Website: vannghedanang.org.vn