VĂN NGHỆ ĐỜI SỐNG
Kỷ niệm 50 năm ngày nhà văn anh hùng Dương Thị Xuân Quý hy sinh: Trên mồ em có mùa xuân ở mãi

Đó là câu thơ xúc động nhất trong "Bài thơ về hạnh phúc" của nhà thơ Dương Hương Ly, như một lời đề tặng, khắc trên bia mộ người vợ, người đồng chí của mình - nhà văn - chiến sĩ - liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý đã anh dũng hy sinh trên chiến trường Quảng Nam đúng ngày 8/3/1969.

Với 28 tuổi đời, nhà văn Dương Thị Xuân Quý đã để lại một số tác phẩm văn học, như "Về làng" (truyện ngắn đầu tay-1960), "Chỗ đứng" (tập truyện ngắn-1968), "Hoa rừng" (gồm các truyện ngắn, bút ký viết trên miền Bắc và trong thời ở miền Nam). Chị đã được được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật năm 2007.

Nhà văn Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19/4/1941 tại 195 phố Hàng Bông, Hà Nội trong một gia đình dòng tộc trí thức, nghệ sĩ yêu nước. Ông nội chị là cụ Dương Trọng Phổ vì sớm vận động cho Đông Kinh Nghĩa Thục nên đã bị thực dân Pháp đày ra Côn Lôn. Cha chị là ông Dương Tụ Quán - một nhà giáo sau chuyển sang làm báo, chủ trương tờ Văn Học tạp chí, rồi tạp chí Tri Tân. Chị có hai người bác ruột nổi tiếng. Đó là ông cử Dương Bá Trạc viết báo, viết văn và tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục. Ông là người yêu nước, giàu ý chí, khí phách. Vì từ chối chức tri huyện khi thực dân Pháp mời, vẫn tiếp tục hoạt động chống Pháp, nên ông đã bị chúng đày ra đảo Côn Lôn. Người bác ruột thứ hai của chị là nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm . Cả hai người bác của chị đã được đặt tên cho đường phố ở Hà Nội và nhiều địa phương. Anh chị em họ của chị có nhiều người thành danh như họa sĩ họa sĩ Dương Bích Liên, Dương Cẩm Chương, Giáo sư Dương Trọng Bái, Dương Thị Thoa, Dương Thị Cương, nhà báo Dương Linh...

Bia kỷ niệm nơi nhà văn Dương Thị Xuân Quý hy sinh

Sống trong gia đình trí thức có truyền thống học hành, ngay từ nhỏ chị Dương Thị Xuân Quý đã bộc lộ tư chất, năng khiếu văn chương. Học ngành trắc địa mỏ (Trường Kỹ thuật Công nghiệp II Quảng Ninh), nhưng có lẽ văn chương mới là sở thích, niềm đam mê đã được dung dưỡng và chỉ chờ cơ hội nảy nở, phát triển. Lúc này năng khiếu càng có cơ hội bộc lộ và chị đã chạm ngõ văn chương khi được giới thiệu học một khóa báo chí tại Ban Tuyên huấn Trung ương. Cơ duyên đã đưa chị về báo Phụ Nữ Việt Nam. Thật ra trước khi về làm phóng viên ở đây, chị đã thường xuyên cộng tác với báo Tiền phong, báo Lao động…

Để nâng cao kiến thức, cô phóng viên trẻ theo học lớp ban đêm chương trình ngữ văn của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Là một phóng viên năng nổ, ngay sau khi đế quốc Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, chị Dương Thị Xuân Quý đã tình nguyện vào vùng trọng điểm ác liệt ở Nghệ An, Hà Tĩnh để viết. Nung nấu nhiệt huyết yêu nước, từ năm 1965, chị đã viết đơn tình nguyện xin vào chiến trường miền Nam. Nhưng nguyện ước "Miền Nam gọi hai đứa mình có mặt" phải đến tháng 4/1968 mới trở thành hiện thực. Mang trọng trách lớn trên vai, nhà văn – chiến sĩ vượt Trường Sơn, sẵn sàng lên đường chiến đấu. Chị tham gia đội ngũ văn nghệ giải phóng trong hoàn cảnh khá đặc biệt: Đứa con bé dại mới 16 tháng tuổi, chồng chị đã vào chiến trường trước đó một năm.

Sự thôi thúc của một trái tim đỏ máu yêu nước, người mẹ trẻ ấy đã dũng cảm gửi đứa con gái trứng nước lại cho gia đình. Đang lúc sức khỏe còn yếu, đứa con bé bỏng đang cần chăm sóc, nhưng chị vẫn yêu cầu tổ chức cho lên đường với một lý do "nếu nhà văn không có mặt ở nơi nóng bỏng nhất, thì sẽ không bao giờ có cơ hội để tác phẩm của mình có được những kỳ tích lớn lao trong cuộc chiến đấu vĩ đại giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà". Để thực hiện được khát vọng ấy, chị phải chấp nhận một nỗi đau xé lòng đối với người mẹ phải xa con. Mục đích cuộc đến nơi nóng bỏng nhất đó cũng thật giản dị: Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt

Đến khi đứa con nhỏ bập bẹ biết nói, thì câu trả lời đầu tiên nếu ai hỏi cha mẹ đi đâu là: Bố đi Nam! Mẹ đi Nam!

Nhà văn ấy đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách tưởng như khó có thể với người phụ nữ mảnh mai như một người lính ở chiến trường: gùi cõng gạo, làm rẫy, chống trọi mọi hiểm nguy, chịu đựng của hàng chục trận bom rải thảm, giữa trận B52, trong sự hành hạ khủng khiếp của cái đói, những cơn sốt rét vật vã "sốt run người vầng trán mướt mồ hôi"... Nhà thơ Dương Hương Ly đã thấm thía sự chịu đựng ấy của chị:

Nhớ chăng em cái mùa mưa đói quay đói quắt

Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng

Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng

Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt

Bao dốc cao em cần cù đã vượt

Bất chấp những khó khăn liên tiếp vây bủa:

- B.52 bom nghìn tấn dội

- Nước lũ về... Trang giấy nhỏ mưa chan

- Cọng rau lang bên miệng hố bom đìa

Như một người lính tiên phong:

Kìa dáng em băng rừng bước vội

Vẫn nụ cười tươi tắn ấy trên môi

Và với một nghị lực vô biên, nhà văn - chiến sĩ ấy đã vượt qua mọi thử thách đối với một người lính, để nhanh chóng tác nghiệp: Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép

Chị dự định viết về một "tương lai tươi thắm ngọt lành"... và đã hoàn thành nhiều bài báo; truyện ngắn "Hoa rừng"; các bút ký "Tiếng hát trong hang đá", "Gương mặt thách thức", "Niềm vui thầm lặng".

Song người phụ nữ ấy còn phải vượt cả những thử thách lớn nhất đối với người mẹ là xa con. Sự cắt chia đó thực sự là một nỗi đau, một hy sinh cho cả hai phía, với chiều sâu khôn cùng. Nhiều đêm chị òa khóc vì nỗi nhớ con. Và kỳ lạ thay, nỗi nhớ ấy lại là nguồn sức mạnh lớn lao giúp chị vượt qua những thử thách ghê gớm của cuộc chiến đấu sinh tử. Qua những trang Nhật ký dành cho con, chúng ta mới hiểu hơn sự hy sinh thầm lặng ở người nghệ sĩ - chiến sĩ, người phụ nữ- người mẹ:

"Ly của ta chẳng có bố về thăm, cũng chẳng có mẹ...Ly ơi sáng nay mẹ vừa đi vừa khóc vì thương con. Mẹ khóc giữa hàng quân, người đi trước không nhìn thấy mẹ khóc, người đi sau không thấy mẹ khóc... Ly của ta đã nói được hai tiếng một. và khi bắt đầu nói được như vậy thì con ta đã phải trả lời thế này: Bố? Đi Nam, Mẹ? Đi Nam... Ôi thương Ly vô hạn. Cứ nghĩ vậy là mình lại khóc. Khổ thân con quá. Đời có những cái mốc thật kỳ lạ. Đẻ ra vừa biết cười là bom đạn. Vừa biết lên tiếng là xa bố mẹ, vừa nhú răng là sơ tán. Vừa biết gọi mẹ là xa mẹ, và vừa biết nói hai tiếng là: đi Nam... Ngày 9/8/1968. Ly con ơi. Mẹ bị ốm nặng lắm, nhưng vẫn giở tất cả các ảnh của con ra ngắm nghía. Mẹ nhớ con trong cơn sốt mê man".

Như một người bạn, chị nói với con về cơn sốt và về sự chịu đựng "Ôi, cái thứ sốt mới đáng sợ làm sao. Nó chỉ rét nhôn nhốt nhưng nhức đầu và đau xương kinh khủng lắm con ơi. Ghê gớm nhất là nỗi nhớ, mẹ nhớ Ly, nhớ ông bà và các bác, nhớ Hà Nội và bạn bè của mẹ. Mẹ rất khổ tâm vì những ngày này bố và các bác các chú trong cơ quan phải gùi cõng rất nhiều. Lẽ ra mẹ có thể góp phần đắc lực". Chị báo tin vui với con khi đã được "Làm người cán bộ của Tiểu ban Văn nghệ Ban Tuyên huấn khu 5, chính thức làm người lính của lực lượng văn nghệ giải phóng". Chị hoan hỉ nói với con rằng "Hôm nay, ngày thứ nhất của cuộc đời mới. Hôm nay, bắt đầu từ hôm nay... Ly, bé Ly yêu dấu của mẹ ơi! Hôn con. Hôn con...". Chị ý thức rất rõ mọi điều có thể sẽ xảy ra nhất là ở chiến trường. Người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa đã thấm nhuần điều đó.

Ở chiến trường Quảng Đà, chị đã viết: "Lạ thế, biết nguy hiểm nhưng vẫn sẵn sàng lao vào, dù có hy sinh. Đời người ai chả chết. Dĩ nhiên mình có nghĩ đến đau khổ của anh và Ly. Nhưng cái gì cũng qua thôi... Đó là ý nghĩ của mình khi được phân công đi công tác Quảng Đà từ nay đến cuối tháng 3- 1969... Lo, mình lo chứ. Nhưng mình quyết tâm và nghĩ thế này: dù có chết thì cũng như bao người phải chết thôi. Nghĩ vậy, không thấy sợ nữa" (Ngày 15-12-1968). Và chị đã ngã xuống trong một loạt đạn của lính đánh thuê Nam Triều Tiên trước cửa hầm bí mật ở chiến trường Quảng Đà vào đúng buổi sáng ngày Phụ nữ Quốc tế năm 1969. Nhà thơ Nguyên Ngọc trong những lần gặp gỡ chị, khi biết tin chị ngã xuống tin rằng vào giờ phút ngắn ngủi cuối cùng ấy trong cuộc đời của một người chiến sĩ anh hùng, một người mẹ anh hùng sẽ là một tiếng gọi: Con?

Chồng chị - nhà thơ Dương Hương Ly trong nỗi đau không thể nói thành lời đã xúc động viết "Bài thơ về hạnh phúc" và bây giờ anh mới lý giải được câu hỏi tưởng như đơn giản về hạnh phúc:

Cho đến ngày cất bước đi xa

Miền Nam gọi hai đứa mình có mặt

Vậy hạnh phúc là cách lựa chọn, không phải là ở lại mà là ra đi theo tiếng gọi của tiền tuyến và không phải chỉ là "hai đứa mình" đơn lẻ mà là "hai chúng mình" có nghĩa là cách lựa chọn của nhiều người, của cả một thế hệ đánh Mỹ:

"Xa nhau không hề rơi nước mắt

Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt"

(Nam Hà-Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi)

"Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau"

(Nguyễn Mỹ - Cuộc chia ly màu đỏ)

Hạnh phúc và tình yêu là được cùng nhau có mặt nơi trận tuyến diệt thù, cùng chia sẻ với nhân dân gánh nặng hy sinh, cùng được sống và viết với lòng dạt dào cảm xúc. Nhân cách nhà văn-chiến sĩ ở chị đáng nể trọng. Chị là một trong những tấm gương tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất đã góp phần làm nên kỳ tích vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Nén nỗi đau, gạt nước mắt vào tim, nhà thơ đã an ủi người vợ hiền - người đồng chí trung kiên:

Thôi em nằm lại

Với đất lành Duy Xuyên

Chân lý về Hạnh phúc thật giản dị. Niềm hạnh phúc lớn nhất của nhà văn là được sống, được viết, được cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Và sự hy sinh trong chiều sâu khôn cùng ấy là "mùa xuân ở mãi".

*Bài viết có sử dụng một số tư liệu của Bảo tàng Hà Nội, tác phẩm của nhà văn Dương Thị Xuân Quý

Ngày 8/3/2019, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Lễ tưởng niệm 50 năm nhà văn Dương Thị Xuân Quý hy sinh. Nhân nửa thế kỷ nhà văn - nhà báo chiến trường đi xa, nhà văn Lê Thị Bích Hồng chia sẻ bài viết của mình như một nén tâm hương tri ân với sự hy sinh của nữ nhà văn mà tác giả vô cùng kính phục.

Nhà văn Lê Thị Bích Hồng
(toquoc.vn)

CÁC TIN KHÁC
Đầy đủ danh sách phim tại LHP Cannes 2019: Ít nữ đạo diễn, không Netflix, không Quentin Tarantino (19-04-2019)
Sức sống mới cho tuồng lịch sử (18-04-2019)
Hấp dẫn Hội sách Hải Châu 2019 (17-04-2019)
Nghệ thuật đương đại chật vật ở Sài Gòn (16-04-2019)
Sân khấu hóa tác phẩm văn học trong trường học: Cách nào phát huy sáng tạo? (11-04-2019)
Giấc mơ phim hoạt hình cho người trưởng thành (10-04-2019)
100 năm cải lương trong phim Việt (09-04-2019)
Điện ảnh nóng sôi, "Cánh diều" vẫn đói gió (08-04-2019)
Tranh Việt được giới sưu tập quốc tế chú ý (05-04-2019)
Dấu ấn nghệ sĩ Việt ở những sô diễn đa quốc gia (04-04-2019)
Đã qua thời tác phẩm nhiếp ảnh chỉ cần đẹp (03-04-2019)
Sách của người trẻ (02-04-2019)
Hát bội không chết, nếu biết làm (01-04-2019)
Nhà điêu khắc Lê Công Thành: "Nếu thất bại, tôi xin chịu trách nhiệm" (31-03-2019)
Họa sĩ thời công nghệ số: Tự kết nối để quảng bá mình (29-03-2019)
Việt Nam đoạt giải Đặc biệt trong cuộc thi âm nhạc tại Nhật Bản (28-03-2019)
MV bi hài, dài tập lên ngôi (27-03-2019)
Vinh danh để tiếp lửa (26-03-2019)
Việt Nam thắng lớn tại cuộc thi flycam quốc tế SkyPixel (25-03-2019)
Nỗ lực xuất khẩu phim Việt qua mạng (21-03-2019)
Thứ hai, ngày 22/04/2019
Tôi tự do, cho dù xung quanh tôi là những luật lệ gì. Nếu tôi thấy chúng có thể chấp nhận được, tôi chấp nhận chúng; nếu tôi thấy chúng quá khó chịu, tôi phá vỡ chúng. Tôi tự do bởi tôi biết bản thân tôi chịu trách nhiệm trước lương tri mình vì mọi điều t
Robert A Heinlein

Đừng âu sầu khi nói lời tạm biệt, lời tạm biệt là cần thiết trước khi ta có thể gặp lại nhau, và gặp lại nhau, cho dù sau khoảng thời gian ngắn ngủi hay sau cả một đời, là điều chắc chắn sẽ xảy ra với những người bạn hữu.
Richard Bach

Một người bạn cũng giống như ngôi sao bắc đẩu, bạn trông vào họ khi bạn lạc đường.
Khuyết danh

Tình yêu không không phải toàn bộ đều là cơn mê sảng, nhưng nó có rất nhiều điểm giống.
Thomas Carlyle

Thành công trong tình yêu không phụ thuộc nhiều vào việc tìm được người có thể làm bạn hạnh phúc bằng việc trốn thoát vô số người có thể làm bạn khổ sở.
Khuyết danh

Cũng như thung lũng cho ngọn núi chiều cao, khổ đau cho lạc thú ý nghĩa; cũng như mạch nước là nguồn của suối, nghịch cảnh sâu sắc có thể là châu báu.
William Arthur Ward

Sự mất mát khiến chúng ta trống rỗng - nhưng hãy học cách không để sự đau khổ đóng lại trái tim và tâm hồn mình. Hãy để cuộc đời đổ đầy lại bạn. Dưới đáy u sầu, dường như điều đó là không thể - nhưng những niềm vui mới đang chờ đợi để lấp đầy khoảng trống
Pam Brown

Hãy yêu tôi khi tôi ít xứng đáng với tình yêu ấy nhất, Bởi đó là lúc tôi thực sự cần nó.
Tục ngữ Thụy Điển

Đừng đếm những gì bạn đã mất, hãy quý trọng những gì bạn đang có và lên kế hoạch cho những gì sẽ đạt được bởi quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng tương lai có thể bù đắp cho mất mát.
Khuyết danh

Đôi lúc cũng cần thiết dừng chân trong cuộc hành trình theo đuổi hạnh phúc, và chỉ đơn giản là cảm thấy hạnh phúc.
Guillaume Apollinaire

Tôi, không phải tình huống, có sức mạnh làm tôi hạnh phúc hay bất hạnh ngày hôm nay. Tôi có thể chọn nó sẽ thế nào. Ngày hôm qua đã chết. Ngày mai còn chưa tới. Tôi chỉ có một ngày, Hôm nay, Và tôi sẽ hạnh phúc với nó.
Groucho Marx

Khi một cây sồi đổ, cả khu rừng vang vọng tiếng đổ của nó, nhưng hàng trăm hạt sồi được cơn gió thoảng qua lặng lẽ gieo.
Thomas Carlyle

Thứ duy nhất có thể cứu được thế giới là phục hồi nhận thức của thế giới. Đó là công việc của thi ca.
Allen Ginsberg

Tình yêu là trạng thái mà khi đó hạnh phúc của một người khác trở nên cực kỳ quan trọng đối với hạnh phúc của bạn.
Robert A Heinlein

Với những kẻ độc ác, mọi thứ đều là cái cớ.
Voltaire

Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet : Số 11/GP - BC Do Bộ thông tin và truyền thông , Cục Báo chí cấp ngày 10 tháng 01 năm 2008.
- Địa chỉ: K54/10 - Ông Ích Khiêm, Thành phố Đà Nẵng
- Điện thoại : 0511-3821434 - Fax: 0511-3519300,
- Tổng biên tập: Nguyễn Thị Thu Hương
- Email: lhvhntdanang@gmail.com - Website: vannghedanang.org.vn