CÁC SỐ KHÁC
   + Số 261 (Tháng 11/2019)
   + Số 260 (Tháng 10/2019)
   + Số 259 (Tháng 9/2019)
   + Số 258 (Tháng 8/2019)
   + Số 257(Tháng 7/2019)
   + Số 256 (Tháng 6/2019)
   + Số 255 (Tháng 5/2019)
   + Số 254 (Tháng 4/2019)
   + Số 253 (Tháng 3/2019)
   + Số 252 (Tháng 1+2/2019)
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số 147 (Tháng 6/ 2009)
 

Kỷ niệm 6 năm ngày mất  Nhà thơ Thu Bồn 17.6.2003 - 17.6.2009
 
                        Quê hương xứ Quảng trong thơ Thu Bồn
 

Dẫu đi nhiều nơi, gắn bó với nhiều vùng miền trên đất nước, nhưng trước sau gì Thu Bồn (1936-2003) vẫn là một nhà thơ nặng lòng với quê hương xứ Quảng. Bản thân bút danh mang tên dòng sông quê hương đã là một minh chứng hiển hiện và sinh động cho tấm lòng nhà thơ luôn hướng về đất mẹ với ý nguyện sẽ xứng đáng với mảnh đất sinh thành bằng cả cuộc đời chiến đấu và sáng tạo nghệ thuật của mình. Cảm hứng về quê hương là một trong những cảm hứng chủ đạo và xuyên suốt trong văn thơ Thu Bồn, ghi một dấu ấn rõ rệt trong các sáng tác của ông

Ngay trong tập thơ đầu tay mở đầu đời thơ Thu Bồn (Tre xanh, 1970), nhà thơ đã dành trọn vẹn bài thơ mở đầu cho quê hương với một tình yêu sâu nặng đến trào nước mắt trong ngày trở lại, trong nụ hôn thiêng liêng thành kính của người con dâng mẹ quê hương, hình ảnh mở đầu và kết lại cuối bài - bài thơ thể hiện một tình yêu quê hương xúc động và đầy ấn tượng theo cách riêng của Thu Bồn: “Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương/ Như hôn người yêu sau ngày xa cách/ Tôi không khóc nhưng vẫn trào nước mắt/ Con đã về đây với mẹ - Mẹ quê hương...  Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương/ Như hôn người yêu sau ngày xa cách/ Tôi không khóc nhưng bỗng trào nước mắt/ Con đã về với mẹ quê hương” (Hôn mảnh đất quê hương).

Với Thu Bồn, quê hương thật mênh mông rộng lớn nhưng cũng rất cụ thể, thiết thực từ thiên nhiên, đất đai đến con người và mọi cảnh, mọi vật vây quanh mình, gắn bó thân thiết với đời mình. Và những cảnh, những vật, những con người xứ Quảng trong thơ Thu Bồn cũng hiện lên sinh động với những nét riêng rất Quảng Nam, có thể nhận ra rõ ràng với những đặc trưng cho sắc thái, tính cách đất và người Quảng Nam. Xứ Quảng là dải đất hẹp như một con đường nằm dọc khúc ruột Miền Trung: “Em đã về chưa mảnh đất hẹp vô cùng/ hẹp như thể một con đường qua lại” (Qua quê mẹ), là nơi có dòng sông Thu Bồn mềm mại êm trôi, có tiếng thoi đưa nhịp nhàng ven bờ Tư Phú: “Con sông nào mềm mại êm trôi/ Sông Thu Bồn duyên dáng của quê tôi/ Tiếng thoi dệt trên bờ Tư - phú/ Dải lụa vàng phơi trên cát vàng tơ” (Mùa xuân về quê mẹ), là nơi “Thăng - triều, Chợ Được hai mùa cấy/ Lúa nhịp đường cong rộn bước vui” (Hành quân đến Ba - kỳ)... Dải đất hẹp ấy là nơi đã sản sinh ra nhiều sản vật đặc biệt nức tiếng gần xa: hạt gạo Điện Bàn trắng thơm, nước mắm Nam Ô đậm đà : “Hạt gạo trắng từ vụ mùa anh Trỗi/ Cá mắm Nam - ô từ những thuyền Lê Độ/ Nằm chật bến, chật bờ/ Theo vai người, theo những cánh tay chèo rẽ nước” (Khói Thu Bồn), chè Tiên Phước thơm ngon, khoai Chợ Được sắn Hiền Lương bở bùi, thơm (dứa) Chiên Đàn mía đường Quế Sơn ngọt lịm: “Đâu chè Tiên Phước thơm ngào ngạt/ Khoai bùi Chợ Được sắn Hiền - lương/ ... Chiên Đàn đã chín mùa thơm ngọt/ Đã tím mùa sim, mía Quế Sơn” (Hành quân đến Ba - kỳ)...Hương vị sản vật cây trái Xứ Quảng cũng rất đặc trưng, nồng đậm mùi rơm rạ khoai bắp: “Những gốc bắp thơm mùi chè hai/ Những gốc rạ thơm mùi cốm rang/ Những gốc cỏ thơm hương nếp mới” (Khói Thu Bồn).

Xứ Quảng thơ mộng, người Quảng chịu thương chịu khó, nhưng đấy cũng là mảnh đất khắc nghiệt, chưa mưa đà thấm, luôn gánh chịu bão lũ và những cơn nắng hạn khô khốc nối nhau tàn phá mùa màng. Xứ Quảng triền miên trong cơn khát đầy nghịch lý giữa biển nước khi mà:

quê hương tôi biển nhiều hơn nước

giọt tận trời cao giọt tận đất sâu

biển đã thổi cồn cào cơn khát

giọt đầu nguồn trong - mắt em đâu?

nước đã tràn bờ nước đã về khơi

dòng sông suốt đời không đuổi kịp

những ghềnh thác thét gào khủng

             khiếp

khúc ngàn năm mây vẫn thấp ngang

                trời

                                      (Qua quê mẹ)

Nơi miền đất khát ấy, nhà thơ thương người mẹ: “hạn hán về lật úp cả dòng sông/ mẹ đã vắt hết thời con gái/ cây cải khú nằm đau trong đáy vại/ thương cộng rơm gầy mẹ nhặt giữa đêm đông” (Phía đầu nguồn), xót người em: “vòng ôm em xoáy tròn cơn lốc/ buồm căng rồi gió lại xoáy tả tơi/ bão vừa tan lại tính chuyện dong khơi/ tóc em đen cánh buồm thổi ngược” (Sau bão). Cái khát hành hạ người đang sống, cái khát còn dằn vặt đến cả người đã khuất tưởng đã được yên nghỉ dưới mồ sâu: “có đêm tung súng lên trời hát/ hỏa pháo soi từng cổ họng khô/ em có đem về theo giọt nước/ rưới cho bạn khát dưới nấm mồ” (Hành phương nam)! Sinh ra trên một mảnh đất như vậy, nên suốt một đời thơ Thu Bồn luôn bị ám ảnh bởi niềm khát khao sông nước, khao khát những cơn mưa: “em là ong mà cũng là hoa/ sau một dải bờ xanh nghe em hát/ ngọn lửa đã đốt anh thành cơn khát/ và tình em dâng hiến hóa cơn mưa” (Vực sâu)...

Miền đất cằn khô nghiệt ngã ấy lại là miền đất trung dũng kiên cường, đi đầu trong hai cuộc kháng chiến thế kỷ của dân tộc. Đất anh hùng, nhưng những đau thương do chiến tranh, do lũ giặc bạo tàn gây ra, những hy sinh mất mát của người dân cũng không thể nào kể xiết: “Thuốc độc quân thù rải chết những đường thôn/ Rụng lá lìa cành cây cỏ héo hon/ Đâu rồi em màu xanh cơ cực...” (Vườn xanh); “ Tây xua rồi Mỹ đốt nhà” (Mẹ), làng quê yên lành biến thành “ Cả một vùng trại  giam ngột ngạt/ Ấp chiến lược thép gai đâm tiếng hát” (Em hát bằng lòng mẹ Việt Nam). Vượt qua đau thương, cuộc chiến đấu anh hùng của người đất Quảng đã góp phần làm nên những câu thơ hào hùng, vạm vỡ của Thu Bồn, nhưng tự trong lòng nhà thơ không bao giờ nguôi nỗi nhức buốt về những gì chiến tranh đã gây ra trên quê hương và luôn chứa đựng những khát vọng hòa bình yên lành lớn lao: “Tôi nằm đó với trái tim đau nhức/ Vết xe tăng giặc Mỹ xéo từng bầy/ Đâu dấu chân trâu của thời thơ ấu/ Những lâu đài thuở nhỏ tôi xây?” (Cho tôi về lại).

Quê hương Xứ Quảng là nơi có nhiều kỷ niệm tuổi thơ sâu đậm của nhà thơ. Đấy là “Nơi tôi moi hòn đất bên bờ ao vàng sẫm/ Chấm từng hạt lúa rơi vương vãi trên đường/ Và chiếc cầu ao giúp ta ngồi giặt/ Bụi quê hương trên áo vải đầm sương”, là nơi làng quê thân yêu có hàng tre râm mát, có cánh đồng vàng gốc rạ, có đàn trâu “nằm trên cỏ xanh gặm ướt chiều hôm”, và có “Người bạn gái có hàm răng như hoa bưởi/ Tóc xanh mềm giờ xa vắng nơi đâu?” (Cho tôi về lại), là nơi “Tiếng mẹ ru ngọt lịm cả nắng chiều/ Và gió bên đồng lại thổi hiu hiu/ Ru bé ngủ say nồng trong tã lót” (Em hát bằng lòng mẹ Việt Nam). Những hình ảnh thanh bình, thơ mộng của một quê hương trong những ngày hòa bình hiếm hoi ấy đã trở thành thường trực và luôn da diết trong tâm hồn nhà thơ, tự bản thân nó đã mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong sự hoài mong, khao khát cuộc sống hòa bình và yên lành đối với tất cả mọi người, nhất là những người dân quê yêu lao động, chuộng bình yên và một đời gắn bó với đồng quê. Muốn trở thành từng chiếc lá xanh mang sắc màu hòa bình, muốn làm một ngọn lửa sưởi ấm đất quê luôn là một ý nguyện thành thật của nhà thơ:

Tôi muốn tôi trong từng chiếc lá xanh

Từng chiếc lá xanh cũng là tôi độc

                nhất

Dù một chiếc nhánh khô lây lất

Tôi cũng là ngọn lửa ấm quê

                                                hương

                                       (Vườn chanh)

Trong lúc tăm tối nhất khi phải nằm hầm bí mật, nhà thơ vẫn nghe được sự sống đang nở ra tươi thắm trên quê hương, vẫn tràn đầy hy vọng về một ngày mai tươi sáng trên quê hương: “ Mấy năm bám đất quê hương/ Đinh ninh vẫn có vừng dương trên đầu/ Rễ cây từng giọt nước rơi/ Thấy mình đang uống ánh trời bao la/ Đầu cành mai có ra hoa/ Chắc rằng nở thắm long ta dưới này/ Ta nghe trâu gọi luống cày/ Có con chim én liệng bay lưng trời/ Mùa đông chiếc lá đương rơi/ Phải chăng xuân đến sáng ngời mắt em” (Chiếc hầm bí mật của tôi). Tình yêu quê hương trở thành một sức mạnh và niềm động viên to lớn để nhà thơ vững bước vượt qua những thử thách ác liệt trong hoàn cảnh chiến tranh: “Quân thù còn bên ta như đám mây lởn vởn/ Đêm nằm chưa yên dưới mái nhà rơm/ Mảnh liếp gầy che những luồng gió thổi/ Ngày qua ngày bữa sắn bữa cơm... Nhưng bên ta có mẹ hiền ấp ủ/ Có quê hương vùng dậy buổi đầu/ Chân vững bước qua muôn nghìn đêm tối/ Mang trái tim hồng nghĩa nặng tình sâu” (Hôn mảnh đất quê hương).

Hình ảnh quê hương luôn đậm đà trong thơ Thu Bồn với tất cả lòng yêu thương và sự tri ân nơi nguồn cội mình sinh ra. Nó hiển hiện cả trong những giấc mơ: “Con đi khắp nẻo đường đất nước/ Núi sông nâng từng bước chân con/ Bàn tay đã diệt bao đồn/ Đêm mơ thấy dải Thu Bồn nước lên” (Mẹ), hiển hiện trong suốt chặng đường dài mười năm chiến đấu, làm thơ: “Mười năm tôi ôm súng và thơ/ Gối đỉnh Bà-nà nằm mơ Non-nước/ Thấy nước triều lên trên bến Hà-thân/ Bỗng thấy căng từng thớ thịt đường gân/ Quê hương cho tôi dòng máu đỏ/ Như giọt mưa xuân thấm nhuần cây cỏ...” (Mùa xuân về quê mẹ), quê hương là tất cả ý nghĩa, mục đích chiến đấu: “Anh cầm súng xông ra tiền tuyến/ Giữ màu xanh quê hương kháng chiến/ Bao lớp quân thù đã gục dưới chân anh/ Cho quê nhà ươm lại một màu xanh” (Vườn xanh), trở về quê hương thanh bình, thơ mộng luôn là niềm ao ước thiết tha cháy bỏng trong tâm hồn: “Cho tôi về lại với hàng tre râm mát/ Nằm trên cỏ xanh trâu gặm ướt chiều hôm/ Cho tôi về với cánh đồng vàng gốc rạ/ Những người thợ gặt đi rồi... Còn nỗi nhớ mênh mông” (Cho tôi về lại)...

            Tình cảm đằm thắm với quê hương thường được nhà thơ biểu hiện qua hai hình ảnh vừa cụ thể vừa có tính biểu tượng cho những gì thiêng liêng, thân yêu, sâu nặng và êm đềm nhất của con người: Mẹ và em: “Mẹ ơi mẹ không quên làng cũ/ Nơi bờ tre ấp ủ tình thương/ Con đi từ lúc còn sương/ Nghe con gà gáy quê hương sáng rồi” (Mẹ) - “qua đồng bằng giọng hát thân quen/ quen như thể không bao giờ lạ được/ quen như thể cơn mưa nào cũng ướt/ tóc em giờ nắng đã khô chưa?” (Qua quê mẹ). Tiếng gọi giải phóng quê hương đang còn đau thương dưới gót giày quân xâm lược là tiếng gọi thiêng liêng buốt nhức:

Đà Nẵng gọi ta như người mẹ gọi

                                                     con

Như người yêu gọi người yêu xa

                                                cách...

                                      (Đà Nẵng gọi ta)

Nhưng sâu thẳm và có lẽ thường trực trong tâm hồn Thu Bồn đến mức trở thành nỗi ám ảnh, là một tình yêu quê hương luôn hiện diện trong khoảng cách, trong sự qua đi, vuột khỏi tầm tay với không thể nào níu giữ được, tình yêu cụ thể với quê hương qua mẹ và em ấy, qua những khu vườn con suối dòng sông ấy là một cái gì đã xa cách, không thể nào nắm bắt níu giữ được! Nghĩa là, nó chỉ có thể là một tình yêu trong hướng vọng, trong tâm tưởng, và chính vì thế mà nó càng khắc khoải, càng cháy bỏng trong hồn người. Nó là sự... chảy vòng quanh quẩn quanh dùng dằng trong tình yêu khôn nguôi của một con sông:

Con sông bên bồi lo cho bên lở

anh đứng nơi này rát mặt với thời

                gian

qua quê mẹ không ghé về thăm mẹ

sông cứ chảy vòng quanh sông bỗng                             hóa sông Hàn...

                                           (Qua quê mẹ)

Thu Bồn viết nhiều về điều qua đi ấy như để giải tỏa một nỗi niềm khắc khoải khôn nguôi về tình yêu của một đứa con đi xa, không thể nào gần gũi với quê hương: “qua rồi Tí Sé Dùi Chiêng/ dòng sông nức nở ngả nghiêng đôi bờ/... chia tay em với nước ròng/ anh về gạn đục khơi trong gởi nguồn” (Ngược dòng); “dòng sông rộng quá nên lai láng/ nhịp cầu thường tiễn ta đi xa/ hỡi con ngựa chiến tuôn về biển/ bất kham dừng lại hóa phù sa” (Qua sông Thu Bồn); “tôi tìm em trong hư ảo tôi tìm/ còi tàu hú tiếng còi đau xé/ rách thời gian cho tôi nhìn quê mẹ/ tiếng cuộc đời kêu thét dưới màn mưa” (Bài thơ giã biệt)... Trong sự xa cách, chia ly, Thu Bồn hay nhắc đến những dòng sông quê hương trong nghĩa ẩn dụ của những dòng chảy cồn cào, cuộn xiết, đã trôi đi là vĩnh viễn không về của đời người, của cuộc sống, của hội ngộ và ly biệt.

Đến những ngày cuối đời, hình ảnh mẹ quê hương vẫn tha thiết, nức nở như vậy trong lòng nhà thơ, như khát vọng được bình yên, được an ủi trong vòng tay mẹ: “... đo lòng mình bên gành trắng Hải Vân/ đứa con xa về đó nghỉ chân/ mẹ tóc bạc- con tin rằng có mẹ/ chữa tan nát trái tim con đau xé” (Bài thơ giã biệt).

Tình yêu quê hương vẫn vẹn nguyên như ngày nào nhà thơ trở về trong chiến tranh, chung thủy, nồng cháy và ngọt lành:

Lòng ta là một cánh đồng khô khát

Mà quê hương dòng nước ngọt tuôn

                trào

                         (Hôn mảnh đất quê hương)

Và, trước sau gì, đấy vẫn là một tình yêu quê hương được thể hiện theo kiểu Thu Bồn, luôn tràn đầy sức sống dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, như dòng sông Thu tràn đầy hơi thở bên những nương dâu thân thiết: “Sông Thu Bồn ơi! Ta nghe người đương thở/ Vỗ triền miên gội tóc những nương dâu” (Hôn mảnh đất quê hương), một quê hương “vừa dịu mềm vừa rắn rỏi đến uy nghiêm” (Khói Thu Bồn), một quê hương hùng vĩ, bất khuất, kiên cường: “Từ mặt đất tối đen sẽ nảy/ Những lưỡi gươm xanh chém lóe nắng trời” (Lửa thép Xê-tră).

Dấu ấn sâu đậm của xứ Quảng rõ ràng đã in đậm trong thơ Thu Bồn từ ngôn ngữ đến hình tượng, từ tên đất tên người đến xúc cảm và tư duy nghệ thuật.
 

NGUYỄN KIM HUY

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com