CÁC SỐ KHÁC
   + Số 260 (Tháng 10/2019)
   + Số 259 (Tháng 9/2019)
   + Số 258 (Tháng 8/2019)
   + Số 257(Tháng 7/2019)
   + Số 256 (Tháng 6/2019)
   + Số 255 (Tháng 5/2019)
   + Số 254 (Tháng 4/2019)
   + Số 253 (Tháng 3/2019)
   + Số 252 (Tháng 1+2/2019)
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số 232 (Tháng 4/ 2017)
 
Tri thức dân gian của ngư dân Đà Nẵng - Đinh Trang

Tri thức là kết quả của các quá trình nhận thức của con người, là sự hiểu biết, sáng tạo và những khả năng, kỹ năng của con người qua quá trình đúc rút kinh nghiệm lâu dài trong đời sống cộng đồng để ứng dụng nó vào việc tạo ra cái mới nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Những tri thức do nhân dân tạo ra, đúc kết trở thành những kinh nghiệm được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác được gọi là tri thức dân gian. Giáo sư Ngô Đức Thịnh, một trong những chuyên gia nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam về văn hóa đã cho rằng, tri thức dân gian bao gồm: 1) Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu...); 2) Tri thức về con người (bản thân: y học dân gian và dưỡng sinh dân gian); 3) Tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); 4) Tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất).

Ở Đà Nẵng, tri thức dân gian của cộng đồng ngư dân ven biển cũng bao gồm những tri thức về thời tiết, con người, trong ứng xử xã hội, trong sản xuất,... Trong quá trình nghiên cứu tư liệu và điền dã tại các phường ven biển Đà Nẵng, chúng tôi đã thu thập được khá nhiều tư liệu liên quan đến tri thức dân gian của cư dân vùng đất này.

1. Tri thức dân gian thể hiện qua thời tiết

Những tri thức về thời tiết được ngư dân Đà Nẵng đúc kết tự bao đời nay. Nó thể hiện sắc thái riêng của địa phương, đồng thời có tính khái quát cao, có thể áp dụng cho nhiều địa phương khác trên cả nước. Chính nhờ những kinh nghiệm được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác mà người dân sống bằng nghề đánh bắt thủy hải sản trên biển phần nào tránh được những mất mát về người cũng như tài sản trong quá trình ra khơi đánh bắt kéo dài hàng tháng trời lênh đênh trên biển cả mênh mông. Những tri thức này thường dựa trên sự quan sát những hiện tượng tự nhiên như: gió, chớp, sóng, mây, trăng, sao, con nước,... để dự đoán. Ngày xưa, khi chưa có máy móc, thiết bị định vị, ngư dân đánh cá ngoài khơi mỗi khi muốn đi vào bờ thì phải nhìn sao mai mọc ở hướng nào rồi theo hướng đó mà tiến.

Người dân miền biển Đà Nẵng có nhiều kinh nghiệm trước những tín hiệu tự nhiên, như sự thay đổi bất thường trên bầu trời hoặc những hiện tượng lạ xung quanh mà đoán biết tình hình thời tiết ở vùng đất mình đang sinh sống. Đặc biệt, mỗi khi nhìn thấy sao tua rua là họ lại lo lắng một năm mất mùa:

- Sao tua rua mọc, vàng cây chết lá

  Sao tua rua lặn, chết cá chết tôm.

- Đời ông cho chí đời cha

Mây phủ Sơn Trà, không gió thì mưa.

- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà

   Sấm rền Non Nước, trời đà

chuyển mưa.

- Mống đóng đằng tây mưa rây

gió giật.

 - Mống dài trời lụt, mống cụt trời mưa.

- Mống cao gió táp, mống rạp

mưa dầm.

- Mây kéo xuống biển thì nắng

chang chang

Mây kéo lên ngàn thì mưa như trút.

- Chớp phía đông, mưa giông đã tới.

- Ba con chảy, bảy con cường.

- Nắng ui ui thui chết người.

Và những kinh nghiệm đã được đúc kết lâu đời đó phần nào đã giúp họ kịp thời lo liệu được những công việc thường ngày trong cuộc sống:

- Mống Cu Đê trở về dọn gác.

- Mây đen phủ kín Sơn Trà.

Gấp lo thu dẹp kẻo mà có mưa.

Những lúc thời tiết bất lợi cho nghề nghiệp thì ngư dân cũng dựa vào những hiện tượng tự nhiên để mà tránh. Trên biển cả bao la, có lẽ đáng sợ nhất là gặp bão. Trước đây, khi các phương tiện truyền thông hiện đại chưa phát triển thì người ta dựa vào những kinh nghiệm đã được các thế hệ cha ông đi trước trao truyền lại cho thế hệ con cháu để dự đoán có thể có bão hay không. Ngư dân nơi đây cho rằng, nếu tháng 2, tháng 3 âm lịch mà có mây bay về hướng Bắc thì gió to biển động, dễ có bão “Tháng giêng động dài, tháng hai động tố”. Nếu không khí tự nhiên oi bức, gió lặng kéo dài khoảng hai ngày, nhìn lên trời thấy mây có hình dạng như những dãy núi đồ sộ, gió tăng dần, đây có thể là sắp có bão di chuyển về hướng đó.

Quan sát chớp cũng có thể đoán được bão. Những khi có chớp xa phía đông nam hoạt động liên tục và đều đặn và có những tia sáng chéo nhau thì nơi điểm sáng nhất là hướng đang có bão hoạt động:

Đông Nam có chớp chéo nhau

Thấp sát mặt biển hôm sau bão về.

Trong quá trình đi biển, người dân cũng có thói quen quan sát con sóng. Nếu có sự xuất hiện của sóng lừng, hướng lan truyền của sóng không trùng với hướng gió là dấu hiệu chothấy có bão đang hoạt động ở cách xa hàng trăm km. Nhìn chung hướng lan truyền của sóng gần trùng với hướng di chuyển của bão.

Ngư dân thường quan sát mặt trăng, nếu thấy trăng non (trăng từ khoảng mồng 8 đến 12 âm lịch) nằm nghiêng thì sau vài ngày sóng mặt biển thường rất cao, gió sẽ rất lớn, có thể có bão. Còn nếu trăng khuyết mà nằm ngang thì trời trong xanh, rất đẹp, có thể ra khơi bình thường.

Họ còn dự đoán bão qua các hiện tượng như bùn non ở biển, sóng trên gành, trên cửa, màu nước,... Nước biển thường có màu xanh hoặc màu lục, nếu nước biển ở một vùng nào đó có màu xanh da trời càng nhạt thì thường hay xảy ra những cơn bão, mưa lớn; hoặc nước biển bỗng nhiên đổi màu sậm là dấu hiệu sắp có một cơn dông hoặc bão.

Ngư dân Đà Nẵng cũng như những cư dân nhiều địa phương khác cũng thường quan sát các hiện tượng của sinh vật để dự đoán thời tiết. Những khi trời nắng to mà thấy rễ cây si nổi những túa trắng thì nhất định sẽ lụt:

- Rễ si ra trắng, chẳng nắng được lâu.

- Rễ si trắng xóa đâm ra.

Mưa to gió lớn hẳn là đến nơi.

Người ta quan sát thấy lá cây cỏ ống bị móp đầu lá, thì sẽ có bão xảy ra, có bao nhiêu ngấn móp thì sẽ tương ứng với bấy nhiêu cơn bão; hoặc cây tre mà có mụn măng mọc ngay giữa khóm thì có bão.

Bên cạnh đó, người ta còn quan sát những con vật như chuồn chuồn, kiến, cua, ong... cũng có thể đoán được thời tiết:

- Tháng bảy heo may chuồn chuồn bay thì bão.

- Kiến đắp thành thì bão, kiến ẵm con chạy rảo thì mưa.

Ngư dân ven biển Đà Nẵng còn dựa vào sự khác thường của loài cua đồng, loài cò để dự đoán thời tiết:

- Cua bò lên bờ thế nào cũng lụt.

- Cò bay ngược nước vô nhà.

Cò bay xuôi nước ra biển.

Nhiều lúc không may, đang làm nghề trên biển mà gặp gió bão bất ngờ, ngư dân cũng vận dụng những kinh nghiệm của mình để bảo toàn mạng sống. Khi xác định được tàu, thuyền nằm ở nửa vòng nguy hiểm thì phải lập tức cho tàu, thuyền chạy theo hướng sao cho gió thực thổi chéo phía trước từ mạn phải khoảng từ 300 - 450 ở bán cầu Bắc và từ mạn trái nếu ở bán cầu Nam. Dựa vào la bàn, giữ lái cho tàu, thuyền đi theo hướng ấy cho đến khi còn có thể lái được. Với phương pháp điều khiển trên tàu, thuyền có thể được đưa ra xa khỏi đường đi của tâm bão theo một đoạn đường ngắn nhất với một góc độ dường như thẳng góc với quỹ đạo di chuyển của bão.

Đối với những trường hợp máy tàu, thuyền yếu, tốc độ chậm và hệ thống lái không tốt, không còn khả năng giữ được mũi tàu, thuyền gối sóng để thực hiện ý định vượt ra ngoài vùng bão nữa thì họ phải lựa và lái gối sóng thế nào để luôn có gió thực thổi ở bên mạn phải tàu, thuyền. Độ sâu nước của khu vực tránh bão cũng cần phải thích hợp với mớm nước của tàu, thuyền. Khu vực tránh bão kín sóng nhưng nông thì tàu, thuyền nếu không dễ bị mắc cạn thì cũng dễ bị lật nghiêng. Ở những nơi sâu quá cũng không tốt vì phải thả dài xích neo, bán kính quay trở tàu, thuyền lớn dễ nguy hiểm khi bị rê neo.

Bên cạnh những kinh nghiệm về thời tiết còn là sự báo hiệu từ những biểu hiện bất ổn của người nhà trước giờ ra khơi, chính nhờ như thế mà họ có thể tránh được những rủi ro, mất mát đáng tiếc:

Thuận buồm xuôi gió thì đi

Mặt nặng như chì ở lại nuôi con.

Dân chài vùng biển có kinh nghiệm trong thời điểm tốt nhất để đánh cá, khi gió nồm thổi về thì có nước lợ ở vùng sát bờ, nên cá thường ra xa bờ. Những lúc đó, thuyền to không thể đánh bắt gần bờ nên có được bất cứ con gì cũng phải bắt cho được, không bỏ qua: “Nồm ngoài nước ngọt, chẳng để lọt con nào”.

Những tri thức dân gian đó đã giúp ngư dân chống lại thiên tai, tránh được những tổn thất do thiên tai gây ra. Ngày nay, khoa học kỹ thuật là công cụ hữu hiệu để phòng chống thiên tai, tuy nhiên những kinh nghiệm dân gian cũng có vai trò lớn giúp ngư dân chuẩn bị tốt hơn, chủ động hơn trước, trong khi đi biển và có khi phán đoán chính xác để tránh được những khi thiên tai bất ngờ.

2. Tri thức dân gian thể hiện qua nghề

Những tri thức về nghề đi biển của cư dân miền biển Đà Nẵng chẳng phải học trong sách vở hay trường lớp mà là trong cuộc sống đời thường, trong quá trình làm nghề trên biển. Từ khi ở tuổi thiếu niên, những cậu con trai đã đi theo cha, anh ra biển để phụ giúp những việc như nấu cơm, tát nước, khi đó họ được gọi là “vẹt sấp”; được một thời gian khi đã biết chèo, chống, vung lưới thì gọi là “trai”; khi biết ứng phó với những tình huống trên biển thì gọi là “bạn”; khi nào đánh cá có kinh nghiệm, dày dạn sóng gió thì thành “thợ”; khi về già, có nhiều kinh nghiệm trong nghề, thì gọi là “ông lão lèn” vì sức yếu rồi nên cho giữ chân cầm lèn đỡ vất vả hơn.

Nghề khai thác biển ở Đà Nẵng hiện nay còn khoảng 11 nghề đang hoạt động như: lưới vây (còn gọi là lưới rút), lưới cá cơm, lưới rập, lưới rê, lưới chuồn, xăm, mành đèn, lưới kéo, te ruốc, giã cào, câu. Mỗi nghề đều có những ngư trường đánh bắt riêng nhưng thường dựa theo kinh nghiệm về con nước, biết được lúc nước lên, nước xuống để tiện cho việc đánh bắt:

Tháng giêng tháng bảy kể là

Mùng năm tháng chín sinh ra

cùng ngày

Tháng hai tháng tám chẳng chày

Mùng ba, mười bảy mấy ngày

thông thương

Tháng ba tháng chín tỏ tường

Mười ba hăm bảy nước cường ai ơi

Tháng tư cùng với tháng mười

Hai lăm mười một cùng ngày

nước sinh

Tháng năm tháng chín đinh ninh

nhớ ngày

Tháng sáu tháng chạp hợp thay

Mùng bảy hâm mốt kể dày hết năm

Ai ơi nhớ lấy kẻo lầm.

Nghề đánh bắt cá trên biển cả cũng có lúc được mùa tùy theo hướng gió hợp chiều mà ra khơi:

- Thuyền ngược ta khiến gió nam

Thuyền xuôi ta khiến gió nồm

thổi lên.

- Nồm mùa sông, dông mùa biển.

- Coi gió bỏ buồm.

Không chỉ nghề đánh bắt trên biển khơi có nhiều kinh nghiệm mà nghề cào nghêu gần bờ cũng có kinh nghiệm riêng:

Nạo nghêu rặt những đi lùi

Tay đè cán nạo, vân bầm tím da.

Ngoài nghề khai thác biển thì ngư dân Đà Nẵng còn có những nghề phụ gắn liền với biển, điển hình như nghề nước mắm Nam Ô nổi tiếng khắp cả nước.

Nghề nước mắm Nam Ô được hình thành và phát triển lâu đời. Theo các hộ gia đình có truyền thống làm nghề cho biết, việc chế biến nước mắm phải có bí quyết riêng, đó là những kinh nghiệm đã được các thế hệ đi trước trao truyền lại.

Thứ nhất là việc lựa chọn nguồn nguyên liệu. Người dân Nam Ô thường mua cá cơm than được đánh bắt vào khoảng từ tháng 3 - 8 âm lịch trên vùng biển Đà Nẵng. Người ta cho rằng, cá cơm than ở vùng biển Đà Nẵng có nguồn gốc từ Cà Mau, vào đầu tháng 3 âm lịch, đàn cá đến vịnh Đà Nẵng và ở lại đến tháng 8, do đó ngư dân thường chọn khoảng thời gian này để đánh bắt. Thời điểm này, cá nhiều hơn và ngon hơn nhờ dòng nước và thổ nhưỡng. Theo người dân Nam Ô, cá cơm than dùng để muối mắm phải còn tươi xanh, không to quá cũng không nhỏ quá. Bởi nếu cá to thì khi muối xong cá lâu phân rã hoặc phân rã không đều, đến khi lấy nước mắm nhỉ sẽ có mùi vị không thơm, đặc biệt màu nước mắm không được đỏ đậm, như thế nước mắm sẽ không ngon. Khi muối, cá không cần rửa lại, vì trước khi đưa lên bờ, cá đã được rửa bằng nước biển, nếu rửa bằng nước ngọt sẽ làm cá mất ngon, để lâu khi muối dễ bị thối.

Người dân cũng có bí quyết chọn và xử lý muối để muối cá, đó là loại muối có hạt to, xuất xứ từ những vùng sản xuất muối nổi tiếng như Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) hay Cà Ná (Ninh Thuận) để có đủ độ mặn và lẫn ít tạp chất. Họ đổ muối trên nền nhà lót gạch hoặc nền xi măng khô ráo từ 5 đến 10 ngày để cho muối rỉ ra hết vị đắng (clor) trong nước biển, phần còn lại chỉ toàn là natri. Sau đó, người ta cho muối vào các chum hoặc hũ đưa vào nhà (kho) cất giữ khoảng hai đến ba năm mới đem ra muối cá, như vậy sẽ tạo ra loại nước mắm không đắng chát.

Họ sử dụng những chiếc thùng, chum, hũ to, nhỏ được làm bằng gỗ bằng lăng hay gỗ mít, gỗ sồi để muối cá nên nước mắm thường để được lâu hơn, ngon hơn.

Ngoài ra họ còn có bí quyết trong cách pha muối và định ra được thời gian mắm chín để lấy nước mắm, phân loại nước mắm. Đấy là bí quyết được ghi trong bia thờ tại ngôi nhà thờ tộc Đinh được xây dựng cách ngày nay khoảng trên hai thế kỷ. Theo đó con cháu tùy mùa vụ, loại cá mà làm mắm giữ được cái gốc cốt cách của nước mắm Nam Ô.

Với những kinh nghiệm sản xuất nước mắm riêng, có bí quyết nghề riêng cho nên nước mắm Nam Ô trở thành một thương hiệu nổi tiếng tự bao đời nay.

3. Tri thức dân gian thể hiện qua ẩm thực

Nhà nghiên cứu Trần Văn An tại cuộc Hội thảo khoa học toàn quốc Văn hóa dân gian với vấn đề biển đảo được tổ chức tại Quảng Ngãi ngày 15.7.2016 cho rằng, tri thức dân gian thể hiện qua ẩm thực trước hết là ở việc khai thác, sử dụng các nguồn nguyên liệu, sản vật biển đảo để làm món ăn, thức uống chính hằng ngày. Sự có mặt ngày càng nhiều món ẩm thực sử dụng nguyên liệu từ biển đảo, một mặt làm phong phú rõ rệt bữa ăn hằng ngày của người dân địa phương, mặt khác thể hiện sự chiếm lĩnh sâu sắc của người dân đối với môi trường biển đảo.

Trong khi đó, người Việt từ xưa đã có truyền thống ẩm thực là “cơm - rau - cá”, chính vì vậy, trong bữa ăn người dân thường chuộng ăn cá hơn ăn thịt. Có lẽ do đặc thù địa hình nhiều sông suối, lại giáp biển nên lượng hải sản cung cấp cho người dân dồi dào. Ở Đà Nẵng, từ xưa người dân đã biết nhiều cách chế biến các loại hải sản như kho, hấp, nướng... Tuy nhiên, để biết được con cá nào tươi, con cá nào ươn, ăn như thế nào là ngon và phải chế biến ra sao thì ngư dân nơi đây có kinh nghiệm riêng:

- Không cá thì thà gắp mắm.

- Con cá đánh ngã bát cơm.

- Mua cá thì phải xem mang

Mua thịt thì phải xem gan kẻo lầm.

Thức ăn của người dân biển chủ yếu là các loại hải sản. Do đặc thù nghề nghiệp nên họ được ăn cá thoải mái và luôn rành rẽ những bộ phận ngon nhất của từng loài cá. Đặc biệt, với người dân biển thì có lẽ cá lúc nào cũng là của ăn của để:

- Nhà biển ăn cá bỏ đầu

Nhà quê thấy tiếc bèn xâu đem về.

- Nhứt đầu cá thu, nhì mui (môi)

cá chuồn.

- Nhứt đầu cá chang, nhì gan cá mập.

Sản phẩm của nghề biển được ngư dân đem chế thành đặc sản nước mắm Nam Ô nổi danh khắp cả nước. Nó trở thành món quà quê ý nghĩa mà mỗi người dân làng Nam Ô gửi gắm vào. Có lẽ do thổ nhưỡng và khí hậu giao hòa giữa núi và biển nên nơi đây đã tạo ra những sản vật, sản phẩm ngon lạ lùng:

- Đợi mắm Nam Ô, đợi cua

làng Gành.

- Nam Ô nước mắm thơm lừng

Đi mô cũng nhớ mùi hương quê nhà.

Và mỗi loại hải sản lại thích hợp với một cách chế biến riêng, tép Nam Ô thì thường có thịt béo hơn:

Rủ nhau mua tép Nam Ô

Sẵn bờ cát trắng, phơi khô đem về.

Đối với ngư dân, hương vị của món ăn cũng cần phải kết hợp tinh tế, chế biến nêm nấu phù hợp tùy vào từng loại. Họ đem kinh nghiệm đó lưu truyền đời này qua đời khác.

- Tôm nấu sống, bống để ươn.

- Con tôm kho mặn thì bùi

Con cá kho mặn mất mùi

không ngon.

- Mắm cơm, mắm nục, mắm kình

Có muối có mắm, có mình có ta.

- Ai về nhắn với bạn nguồn

Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên.

Cá chuồn, mít non là món ăn dân dã trong vùng, là món không thể thiếu trong thực đơn của người dân Đà Nẵng nhất là nông thôn. Người ta thường mua cá chuồn tươi về xẻ dọc bụng, sau đó trở sống dao dần cho mềm xương sống cá ra, chặt đầu vằm nhỏ với thịt heo mỡ và ruột cá, thêm gia vị tiêu, ớt, hành, nước mắm ngon bóp nhuyễn nhét vào bụng cá, gấp đôi hoặc gấp ba con cá lại, lấy dây buộc chặt tất cả đem rán chín, rồi “um cá” (bằng cách cho nước và muối vào kho) sao cho nước vừa và sít là được, ăn rất ngon. Nếu muốn để dành thì vào mùa cá chuồn, mua về xâu lại phơi nắng thật khô, cho vào bầu tre ủ kín để dành, mỗi khi ăn hái quả mít non vườn nhà, vạc hết gai, chẻ ra băm nhỏ hoặc thái thành lát mỏng nấu với cá chuồn khô, khi chín thêm lá lốt, đó là món ăn thường ngày khi mùa cá chuồn đến.

4. Tri thức dân gian thể hiện qua y dược

Biển không những mang đến cho ngư dân Đà Nẵng nguồn hải sản lớn mà từ lâu, bằng kinh nghiệm dân gian, ngư dân đã tìm ra từ biển nhiều phương thuốc tốt cho họ. Trước hết, biển mang đến một bầu không khí trong lành, mát mẻ về mùa hè và ấm áp vào mùa đông. Hơi nước và gió từ biển thổi vào góp phần làm trong lành cho tầng khí quyển của đất liền. Các yếu tố của biển như nước biển, cát biển, có thể chữa một số bệnh ngoài da, phong thấp, suy nhược, bệnh đường hô hấp, viêm xoang, gai cột sống… cho nên người dân thường đi tắm biển vào buổi sáng, buổi chiều hoặc đi bộ, phơi nắng, vùi mình trong cát trên bãi biển.

Ngư dân còn sử dụng một phương pháp chữa chứng đau dạ dày khi trên biển rất hay mà các nhà truyền giáo phương Tây đến Đàng Trong vào thế kỷ XVI còn ghi lại. Trong tác phẩm Hành trình và truyền giáo do Ủy ban đoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1994, giáo sĩ Alexandre de Rhodes kể lại rằng: ”Tôi tưởng nên kể ở đây một bí quyết tuyệt diệu của giáo dân Đàng Trong dạy tôi để không bị đau dạ dày khi đi biển. Thực ra không bao giờ tôi đi biển mà không bị chứng đó hoành hành trong năm sáu ngày đầu. Thấy tôi quặn đau, người ta mách tôi một liều thuốc rất hiệu nghiệm. Bệnh này là do thuyền tàu chòng chành hoặc hơi khí biển bốc lên. Đây là liều thuốc: mổ bụng con cá lớn lấy mấy con cá con trong đó, đem rán lên, rắc chút hồ tiêu và ăn trước khi bước xuống thuyền. Thế là tức khắc dạ dày cứng cáp khỏe mạnh, đi biển không núng. Tôi thấy bí quyết này kỳ diệu, nhưng còn kỳ diệu hơn khi dùng, từ đó tôi vẫn đem ra thực hành và không bao giờ đau bệnh này nữa”.

Để chống lại cái lạnh của gió biển vào mùa đông, ngư dân cho biết, mỗi khi đi biển họ thường uống một chén nước mắm mặn để chống chọi với gió độc và cái lạnh của biển khơi.

Họ còn sử dụng nhiều loại rong tảo trong lòng biển, hoặc các loại cây lá ở những mỏm núi sát biển như ghềnh Nam Ô, bán đảo Sơn Trà để chữa rất nhiều bệnh. Điển hình như mứt biển, đó là một loại rong biển ăn được (porphyra), loài tảo đỏ này lúc còn non thường có màu hồng, khi về già thì lại chuyển sang màu đỏ thẫm tím. Mứt biển không chỉ làm thức ăn thường nhật mà còn làm thực phẩm chức năng, hỗ trợ chữa bệnh. Ngoài thành phần chất đạm cao, mứt biển ở Đà Nẵng còn chứa rất nhiều khoáng chất, các yếu tố vi lượng và các loại vitamin, trong đó nổi bật là yếu tố vi lượng iốt, canxi với hàm lượng cao, là một thực phẩm “dưỡng sinh” tốt phối hợp trong điều trị nhiều bệnh mãn tính như: bệnh béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp, suy tuyến giáp và cung cấp canxi cho trẻ còi xương,...

Thay lời kết

Tri thức dân gian của ngư dân Đà Nẵng được đúc kết trong quá trình lao động và sinh sống lâu dài, được lưu giữ trao truyền từ đời này qua đời khác và có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Những tri thức đó giúp ngư dân vượt qua nhiều thiên tai và vận dụng vào khai thác có hiệu quả, đảm bảo được đời sống hằng ngày của họ. Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, những tri thức này phần lớn bị mai một. Người già có kinh nghiệm thì không có sức khỏe để đi biển, người trẻ đi biển chủ yếu sử dụng, phụ thuộc vào các phương tiện kỹ thuật hiện đại,... nên việc lưu giữ những tri thức này là vấn đề hết sức cấp thiết.

Đ.T.T

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com