CÁC SỐ KHÁC
   + Số 260 (Tháng 10/2019)
   + Số 259 (Tháng 9/2019)
   + Số 258 (Tháng 8/2019)
   + Số 257(Tháng 7/2019)
   + Số 256 (Tháng 6/2019)
   + Số 255 (Tháng 5/2019)
   + Số 254 (Tháng 4/2019)
   + Số 253 (Tháng 3/2019)
   + Số 252 (Tháng 1+2/2019)
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số 212 (Tháng 7/ 2015)
 
Nhắc thì... ứa nước mắt! - Hồ Duy Lệ

một hôm tôi nhận được cú điện thoại: “Em hỏi và tìm được số điện thoại của anh. Em là Sáu - em ruột của Huỳnh Quang Mãi. Nghe bạn anh Mãi nói anh biết chuyện anh Mãi đấu tranh bị chết trong nhà tù Phú Quốc. Nếu có dịp về Việt An cho em gặp, vợ em và các con em muốn nghe anh kể về anh Ba Mãi và những người bạn của anh Ba trong nhà tù địch”.

Mỗi lần kỷ niệm ngày quê hương giải phóng, ngày Tết, ngày hai bảy tháng bảy, anh em bạn tù thường tổ chức gặp mặt, vẫn luôn hỏi thăm về người em út Huỳnh Quang Mãi chết ngoài đảo Phú Quốc xa khơi. Không ai biết gì thêm sau cái chết đớn đau của Mãi, không biết cha mẹ xóm làng Mãi ở đâu. Nhận được cú điện thoại quá bất ngờ, tôi liền đi Việt An huyện Hiệp Đức tìm gặp Sáu. Ở chợ Việt An nhiều người biết Sáu với biệt danh Sáu Xe. Bà con còn biết Sáu là Phó Bí thư chi bộ, Thôn trưởng thôn Việt An. Ngoài việc của chi bộ, việc của Thôn, Sáu giúp một tay với vợ phục vụ quán cơm để nuôi hai con trai ăn học. Đây là cái quán cơm sinh thời mẹ nuôi của Sáu từng bán để nuôi bầy 6 đứa con nuôi! Sở dĩ có biệt danh Sáu Xe là lúc nhỏ Sáu rất mê đi xe. Thấy người ta dựng chiếc Honda vào quán ăn cơm thì Sáu thót lên, cài số, rồ ga. Một hôm Sáu cho Honda chạy xuống Dốc Tranh - cái dốc cách chợ chừng cây số, xe chạy nhanh, không biết hãm phanh thế là Sáu la làng cho đến lúc chiếc Honda mang Sáu xuống ruộng bùn dưới chân Dốc Tranh. Từ ấy dân chợ Việt An tặng cho Sáu biệt danh Sáu Xe. 

Nhìn Sáu - một trung niên tầm thước, đầu tóc hớt ca - rê, tóc đen điểm sợi trắng, tôi hình dung bóng hình Huỳnh Quang Mãi qua lời kể của bạn tù của Mãi. Trông người chắc nịch vậy mà, nhắc đến anh Ba Mãi thì Sáu rớm rớm nước mắt. Khi ở trong tù, anh Ba Mãi từng nói với bạn tù anh có người em tên là Huỳnh Quang Chung. Thời đánh giặc Pháp, xã Thăng Phước thuộc huyện Thăng Bình, thời đánh Mỹ thuộc huyện Quế Tiên, sau hòa bình một thời gian thuộc huyện Hiệp Đức. Sau ngày 30 - 4 - 1975, một số anh em ở Đảo về cùng nhau về Thăng Phước, huyện Quế Tiên tìm thăm người thân của anh Mãi, tìm người tên Nguyễn Quang Chung thì không ai biết, huyện, xã cũng không thấy ai có tên Huỳnh Quang Chung, từ đó biệt tin về  Chung và Mãi cho đến khi Sáu tìm về nơi chôn nhau...

Tháng 7-1963, địch mở chiến dịch Bình Châu, triển khai đồng loạt 9 cánh quân, từ nhiều hướng, hàng chục xe GMC đổ quân, có xe bọc thép, máy bay phản lực, trực thăng và pháo hỗ trợ, ồ ạt tấn công vào các mục tiêu ở các xã Bình Lâm, Thăng Phước, Bình Trị, Bình Phú của huyện Thăng Bình, đồng thời đổ quân vào các xã Phước Sơn, Phước Cẩm, Phước Hà, Phước Tân của huyện Tiên Phước. Mục tiêu của chiến dịch “Bình Châu” là đẩy lực lượng Giải phóng xa khỏi vùng đất đã chiếm được, tiêu diệt “lực lượng chủ lực”, thiết lập lại bộ máy xã thôn vừa bị Mặt trận giải phóng đánh tả tơi. Chiến dịch kéo dài cả tháng trời, rồi bom pháo tơi bời, dồn dân vào 13 khu dồn để kìm kẹp, không cho quân giải phóng có điều kiện tiếp cận dân. Thời điểm ác liệt nhất, vùng tây huyện Thăng Bình địch đóng đến 17 cái chốt, có các chốt lớn khống chế một vùng rộng lớn, gây rất nhiều khó khăn, tổn thất cho quân Giải phóng. Dân bị xúc đi thì ruộng vườn bỏ hoang hóa, heo rừng xuống tận cầu Ông Triệu. Sắn, chóc, chuối, rau bị chất độc hóa học làm trụi trơ. Đó đây, cán bộ, bộ đội, nhất là bộ đội trẻ măng từ miền Bắc vào đi tìm cái ăn, ăn cả sắn bị chất độc, lạc đường, đói, sốt rét nằm chết trong hầm, chết bên khe nước trong rừng và chết ngay trên võng của mình. Những cán bộ phong trào bấy giờ không bao giờ có thể quên những ngày ác liệt của năm 1969 -1972, khi các Đội công tác cùng du kích đêm đen thọc ra tận bờ rào ấp chiến lược phá khu dồn kéo dân về làng… Làm sao có thể quên những người dân kiên cường tuyệt đối trung thành với cách mạng, hết lòng cùng cán bộ, du kích: “Nhà tan, cửa nát cũng ừ. Đánh thắng giặc Mỹ cực chừ sướng sau”. Trong một trận chống địch càn vào làng, một số chiến sĩ du kích xã Thăng Phước hy sinh. Huỳnh Quang Mãi bị địch bắt, khai làm giao liên cho bộ đội nên địch đưa về giam ở nhà tù Non Nước. Ngày 19 -  5 - 1971, từ nhà giam tù binh Nước Mặn - Non Nước - Đà Nẵng, chúng còng từng ba anh em tù binh vào một chùm, tống lên chiếc GMC, cho xe chạy vào miệng chiếc tàu thủy há mồm của Hải quân Mỹ đậu ở cảng Tiên Sa, đẩy anh em xuống sàn tàu, nhốt trong một phòng kín bưng. Nằm trên sàn tàu, vẫn bị còng, năm ngày năm đêm lênh đênh trên biển say mềm, mửa mật xanh, mật vàng. Khi cập cảng Phú Quốc, sóng mạnh, tàu không vào sát bến được, chúng cho xà lan kè vào sát thành tàu, kéo anh em tù lên xà lan chở vào đẩy lên bờ, anh em đói, say sóng trông như những cái xác chết đuối. Vừa lên bờ, gặp ngay mấy tên trật tự trông trậm trợn đứng đón, chỉ hai con đường trước mặt để anh em chọn: Ai chiêu hồi, vào trại giam theo quốc gia, cũng bị đánh, nhưng đánh ít; ai không chịu chiêu hồi, bị đánh tới tấp, vào trại giam Cộng sản. Một tên trật tự, có lẽ là thủ lĩnh trong bọn đe: - Đây là Phú Quốc, không phải đất liền. Liệu hồn nghe các con!

Chủ nhà ngục tuyển chọn những tên du thủ du thực người đời sợ, bị tống vào tù, giao nhiệm vụ trật tự - như những đao phủ trị anh em tù chính trị. Nhiệm vụ của chúng là đánh dằn mặt ngay từ đầu, đánh túi bụi vào anh em tù, không chừa một ai. Đánh từ bến cho đến nơi một chiếc xe đậu, tống anh em lên xe, chở vào khu B.11. Ở phòng số 1 khu B.11, anh em phân công cho Thanh làm Trưởng phòng thương binh. Một hôm, Trung sĩ Câu gọi Thanh lên giao nhiệm vụ: Anh là Trưởng phòng, tôi mời anh lên để thông báo chủ trương của Chính phủ, về phổ biến cho anh em chuẩn bị cởi áo tập trung lên cho chúng tôi in số. Biết đây là việc hệ trọng, Thanh nói: - Thưa Thượng sĩ, tôi xin tiếp thu ý kiến của Thượng sĩ về phòng truyền đạt lại cho anh em. Câu đeo lon Trung sĩ song Thanh gọi Thượng sĩ cho oai. Về phòng, anh em bàn bạc đi đến nhất trí không cho chúng in số trên áo tù nhân. Thanh lên báo lại tinh thần của anh em thì Trung sĩ Câu trợn mắt: Được! Địt mẹ mày. Để đó tau. Trung sĩ Câu loa gọi Nguyễn Thăng đại diện Khu B.11 ra, đồng thời loa gọi Huỳnh Quang Mãi người tù nhỏ nhất cùng ra.

Huỳnh Quang Mãi tham gia du kích lúc mới 16 tuổi, người nhỏ như đứa trẻ 14 tuổi, hôm bị bắt anh em bày khai thêm hai tuổi đủ 18 tuổi để làm tù binh không thì chúng sẽ giam với thiếu sinh quân rồi đưa vào trại lính để tung ra chiến trường thí mạng. Chúng bắt ba người là Thanh, Mãi và Thăng đứng một hàng trước phòng của Trung sĩ Câu. Câu gọi Thanh bước lại, bảo đưa hai bàn tay úp lên ngang ngực. Trung sĩ Câu cầm cây thước gỗ lim dài hơn một mét quất bốp bốp năm cái liên tiếp lên mu bàn tay Thanh, rồi bảo ngửa bàn tay ra, quất thêm năm cái nữa. Máu chảy tràn hai bàn tay Thanh, rơi xuống đất. Sau Thanh, đến lượt Thăng cũng bị quất hai bàn tay đến tứa máu song cũng không chịu cởi áo để in số. Trung sĩ Câu gọi Huỳnh Quang Mãi lại bảo cởi áo ra in số. Huỳnh Quang Mãi nhìn Thanh, Thanh nháy mắt, ý nói không cởi áo, rồi nhìn Thăng, Thăng cũng nháy mắt như Thanh. Huỳnh Quang Mãi cởi áo đưa cho Trung sĩ Câu. Trung sĩ Câu bảo mấy tên trật tự in số trên lưng áo của Huỳnh Quang Mãi. Khi Trung sĩ Câu đưa áo bảo mặc vào, Huỳnh Quang Mãi cầm cái áo, nhìn con số 6675 trên lưng áo, đưa mắt nhìn Thanh, Thanh nháy mắt, ý nói là không mặc. Huỳnh Quang Mãi cầm cái áo do dự thì Trung sĩ Câu nạt: “Đù mẹ, mặc vô mày”.

Huỳnh Quang Mãi nhìn anh em tù, giận dữ xé toạc cái áo, vò vò rồi ném vào mặt Trung sĩ Câu. Lập tức, lính của Trung sĩ Câu ập vô còng tay Huỳnh Quang Mãi. Lúc đó vào khoảng 2 giờ chiều ngày 27/5/1971. Chúng thay nhau đá, đạp rồi tống Huỳnh Quang Mãi vào hầm đá. Huỳnh Quang Mãi bị sưng bóng đái chết trong phòng giam. Ngày hôm sau, 28/5/1971, toàn khu B.11 nổ ra cuộc đấu tranh tuyệt thực. Cuộc đấu tranh kéo dài được bảy ngày thì thức uống dự trữ cầm hơi đã hết, sức lực anh em gần cạn kiệt. Đảng ủy nhà lao bàn nếu tiếp tục đấu tranh bằng tuyệt thực thì sợ nhiều anh em gục mà không đạt yêu cầu. Cuối cùng đi đến quyết định mổ bụng tập thể... thì địch mới chịu chấp nhận một số yêu sách của tù nhân.

 Tôi đi cùng Sáu về làng Phú Toản để nhìn cái vườn của ông nội Sáu và nói chuyện với các anh ở Đảng ủy xã Thăng Phước, hy vọng biết thêm đôi điều về những ngày gian khổ, ác liệt ở vùng đất một thời thấm máu và nỗi đau không cùng: Mỹ hạ trực thăng xuống làng Phú Toản xã Thăng Phước xúc hết mười mấy hộ dân bám trụ, đổ xuống Ngã Ba Phú Bình. Trong số gia đình kiên cường bám ruộng bám làng đó có ông cháu Huỳnh Quang Đó. Từ Ngã Ba đi bộ chừng sáu cây số thì đến chợ Việt An. Trực thăng bắn rocket, Mỹ lết, xe tăng chà, tàu rà bắn trái khói, vậy mà dân Phú Toản vẫn kiên cường bám làng để du kích có chỗ dựa. Xúc dân đi, giặc Mỹ hy vọng bứng mất chỗ dựa của du kích. Ông Huỳnh Quang Đó không chịu ăn phần lương thực trợ cấp cho bà con bị xúc vào khu dồn mà những người đứng ra gọi tên, phân phát gọi bà con là những người tỵ nạn Cộng sản. Ông Huỳnh Quang Đó làm ăn đóng góp nuôi cán bộ, bộ đội, các con ông là cán bộ, là du kích, các cháu của ông, cả cháu nội và cháu ngoại đều bị mồ côi cha, mẹ, ông bị xúc tách khỏi những người du kích sao gọi ông là dân tỵ nạn! Sau khi cho bớt hai thằng cháu ngoại mồ côi cha mẹ là Quyền và Ba, ông dắt thằng Sáu - cháu trai duy nhất còn sống sót xuống chợ Việt An kiếm việc chi làm nuôi thân và nuôi cháu. Phải giữ thằng cháu nên kiếm được việc làm không dễ, ông Huỳnh Quang Đó đành lòng cho cháu hy vọng người ta nuôi tốt hơn, may gặp người tốt bụng có thể họ cho cháu đi học không thì cả đời cháu cũng không biết cái chữ a, b, c như ông. Đầu tiên ông cho thằng Sáu cho bà Thơm. Nuôi thằng Sáu được hơn một tháng, bà Thơm thấy thằng Sáu khôn quá, sai chi hắn cũng làm, nói chi hắn cũng nhanh hiểu. Kiểu ni, lớn chút nữa hắn sẽ bỏ bà hắn đi, nuôi uổng cơm, bà Thơm trả thằng Sáu cho ông Huỳnh Quang Đó. Lần thứ hai, ông Đó cho thằng Sáu cho bà Nhứt. Bà Nhứt kêu xe thồ nhờ chở Sáu về nhà dưới Hương An. Ông nội hy vọng cháu có cơm ăn và tránh được bom đạn. Thấy ông nội nói chi đó với bà Nhứt, Sáu liền tụt xuống xe thồ chạy u lại ôm cứng ông nội. Rồi, một hôm, ông Huỳnh Quang Đó dắt thằng Sáu đến gần chợ Việt An thì gặp Trần Ngụy Xã trưởng xã Quế Thọ. Gọi ông Đó bằng cậu, Xã trưởng Trần Ngụy nói ông Đó cho ai nuôi thằng Sáu thì Trần Ngụy sẽ nhận ông Đó ở giữ trâu. Đang trong tình thế khó xử thì bà Sáu Có xuất hiện. Bà Sáu Có không có chồng, thương người, nên nhận nuôi con trẻ bị mất cha mẹ vì bom đạn. Bà Sáu Có đồng ý nuôi thằng Sáu. Nhà cạnh chợ Việt An, bà Sáu Có mở quán bán cơm cho khách và nhận nấu cơm cho lính. Để không ai làm rầy rà sau này, nhân có mấy người lính ở đồn Cao Lao ra quán ăn cơm, bà Sáu Có nhờ lính viết giùm ông Huỳnh Quang Đó cái giấy cho cháu. Trong lúc hai bên đang viết giấy thu xếp chuyện cho thì thằng Sáu phát hiện ông nội lẻn ra sau bếp về hướng nhà Xã trưởng Trần Ngụy, thế là Sáu tuôn chạy theo ông nội. Từ nhà Xã trưởng Trần Ngụy đến nhà bà Sáu Có chưa đầy cây số, ông Đó thuyết phục thằng Sáu nghe lời ở với bà Sáu Có, khi mô nhớ ông nội thì xin bà Sáu Có chạy lên thăm ông nội.

Hỏi Sáu sao lại có tên Nuôi? Sáu rớm nước mắt: Khi anh Ba bị bắt biệt tăm thì chị Bốn rồi anh Năm, người bị bom chết, người bị pháo chết, rồi cha chết, rồi mẹ chết. Bấy giờ em chừng 5 tuổi - em sinh năm 1965, ông nội không kham nổi ba đứa cháu mồ côi đành đem cho người ta. Mẹ Sáu Có là người em chịu làm con nuôi. Nhận em thì mẹ nuôi đặt tên khai sinh cho em là Huỳnh Minh Nuôi để có điều kiện cho em đi học.

Nhớ cha thì Sáu ứa nước mắt song không tài nào hình dung ra gương mặt của cha. Nhắc đến mẹ, các anh chị, Sáu ứa nước mắt, nghẹn lời và cũng không tài nào hình dung ra khuôn mặt của mẹ, của anh, của chị. Không ai có một tấm ảnh! Sáu chỉ nhớ hai lần gặp ông nội. Lần đầu là hôm ông nội thả bầy trâu ở cánh đồng gần đường, thấy Sáu, ông nội lại ôm Sáu rồi dẫn Sáu xuống quán bà Sửu mua cho Sáu hai viên bi chai. Rất thích hai viên bi chai ông nội cho, vậy mà thấy thằng Xí con bà Tư ăn bánh ít, thèm quá, Sáu đổi cho thằng Xí một viên bi chai để hắn cho cắn nửa cái bánh ít. Và, lần thứ hai, cũng là lần cuối cùng thấy ông nội là thời kỳ bị pháo kích, mẹ nuôi đưa Sáu lên ở trên nhà bà Hai Phụng, Sáu đang đứng chỗ góc sân thì thấy ông nội vác cây chuối sứ đi ngang qua. Ông nội nói vác chuối về cho bà Ngụy nuôi heo. Nhà Xã trưởng Trần Ngụy ngoài nuôi trâu còn nuôi một chuồng heo lai, bấy giờ người ta gọi là heo Thái Lan. Ông nội để cây chuối xuống đất nghỉ, Sáu ôm ông nội, ông nội đưa cho Sáu hai chục đồng tiền kên.

Sau ngày giải phóng năm 1975, bấy giờ Sáu đã mười một tuổi thì mẹ nuôi mới nói về lai lịch của em, mẹ lục trong rương lấy cái giấy của ông nội đưa cho em xem. Nội dung đơn giản: Tôi là Huỳnh Quang Đó, người xã Thăng Phước, cho bà Lý Thị Có cháu nội của tôi tên là Huỳnh Sáu. Tôi viết giấy này để bà Lý Thị Có yên tâm nuôi cháu của tôi như con của bà không ai có quyền can thiệp. Từ cái giấy của ông nội, em biết quê quán Thăng Phước huyện Thăng Bình. Em xin mẹ nuôi cho về quê tìm người thân thì mẹ nuôi nói người thân của em người hy sinh, người chết còn ai đâu về tìm. Một hôm, nghe người ta nói số bà con ra chợ Việt An nhận gạo cứu đói đó là dân trong Bình Huề, Phú Toản..., em lần mò hỏi thăm đường thì mẹ nuôi để em về quê. Từ chợ Việt An vào đến Phú Toản hơn 16 cây số. Ngày ấy đường đất còn hục hang, lên đồi, lội suối, cỏ gai, vậy mà em chân đất lội bộ về tìm quê chôn nhau, tìm người thân. Em hỏi thì người trong làng nói với nhau, đúng là cháu ông Đó thì là con của ông Huỳnh Quang Đức và bà Trần Thị Chè. Như vậy, Sáu còn người chú ruột là Huỳnh Quang Minh và hai người cô ruột là Huỳnh Thị Ngộ (bà Ngộ được phong Mẹ Việt Nam Anh hùng) và Huỳnh Thị Sáu. Lúc đầu cô chú chưa tin cha mẹ em còn đứa con trai, cô chú hỏi em còn nhớ gì về cha mẹ, anh em, thì em nhắc tên ông nội, kể chuyện ông nội giữ trâu cho ông Trần Ngụy thế là cô chú tin. Cô chú, bà con rất mừng, nói rằng, tưởng tiệt nòi, hóa ra, ông Đức, bà Chè còn có người lo thờ tự, cúng giỗ. Một điều may mắn và vui là khi anh Nguyễn Mậu Kha - một bạn tù của anh Mãi sau ngày hòa bình làm Trưởng phòng Thương binh huyện Quế Sơn tìm gặp em và cho em biết anh đã làm Liệt sĩ cho anh Mãi và giao bằng Liệt sĩ Huỳnh Quang Mãi cho em thờ. Ngày 6/10/1978, ông Lâm Sơn Ca, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thăng Bình ký giấy chứng nhận Liệt sĩ và gia đình Liệt sĩ cho Huỳnh Quang Mãi, nguyên quán xã Thăng Phước, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Bằng Liệt sĩ có quyết định số 559, do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký ngày 30/7/1979, ghi: Huỳnh Quang Mãi tham gia công tác cách mạng tháng

10/ 1964, là cán bộ Giao bưu Huyện ủy Thăng Bình. Hy sinh tại nhà lao Phú Quốc ngày 15/8/1971.

 Em thờ anh Mãi vậy là tốt rồi. Vậy em lấy ngày nào giỗ cho anh Ba? Theo các anh bạn tù của anh Ba thì anh Ba hy sinh trong đợt đấu tranh quyết liệt diễn ra từ ngày 27/5/1971. Nhưng cha mẹ, anh chị đều không còn, không ai nhớ chết khi nào, nên em lấy ngày mất của cha làm ngày giỗ chung cho cha, mẹ, anh, chị.

 - Làm sao em biết ngày cha chết mà làm giỗ?

-Theo cô, chú và các vị cán bộ cách mạng của xã Thăng Phước thì: Hôm ấy là Rằm tháng Mười, mẹ em cúng Rằm, mang đồ cúng vào khe cho cha và các đồng chí của cha cùng chống càn trong khe. Mẹ không ngờ bọn thám báo bám theo chân mẹ, phát hiện ra chỗ cha ẩn núp báo cho lính vào bao vây bắn chết cha, cậu Chát và một số đồng chí của cha. Còn mẹ em? Sau đó thì mẹ em cũng chết. Theo mợ Chát, hôm ấy mẹ em đang nấu cháo bắp cho du kích ăn, mẹ cùng ăn để đi làm chiều thì bị tàu rọ bắn, một du kích bị thương, mẹ bị viên đạn xuyên hông bể bụng nằm quằn quại trước miệng hầm, người dính đầy cháo bắp và máu. Em lấy ngày Rằm tháng Mười hằng năm làm giỗ.

 Trong thời gian địch xúc dân ở Việt An xã Bình Lâm về thôn Sáu xã Bình Dương lập khu dồn thì Xã trưởng Trần Ngụy, Ấp trưởng Trần Tiến là em ruột của Trần Ngụy, đưa gia đình và tài sản xuống Cẩm Hà, Hội An. Ông Huỳnh Quang Đó cũng phải lùa hai con trâu của Xã Trưởng theo xuống Cẩm Hà. Mẹ nuôi bị tù... từ đó, Sáu biệt tin ông nội. Sau này hỏi thăm, Sáu nghe kể lại, ông nội lùa trâu đi ăn thì vấp mìn, cả con trâu và ông nội đều chết. Mỗi lần nhắc đến cái chết của ông nội làm Sáu khóc và buồn mấy ngày liền. Đã hai lần Sáu xuống nơi từng có khu dồn Cẩm Hà, gần khu vực gạch - gốm Cẩm Hà - nơi ông nội và trâu bị mìn, tìm xác ông nội, nhưng chỉ gặp gạch bể, xương trâu, xương bò, cỏ dại, thép gai và đất đen... Nay thì không còn hy vọng tìm được hài cốt ông nội vì nơi đây đang được xây dựng thành khu du lịch - làng nghề truyền thống.

Hè này - 2015, gặp lại, Sáu cho biết hai con trai đã có việc làm. Hai vợ chồng chuyển quầy bán cơm bình dân thành quầy bán phụ tùng dân dụng. Nước mắt lưng tròng, Sáu nói: Tròn năm mươi tuổi, em vừa hoàn chỉnh lý lịch bản thân và gia đình. Phú Toản và Việt An là quê quán thân yêu của em. Hai vợ chồng vừa nâng cấp được ngôi nhà mẹ nuôi để lại, có chỗ thờ trang nghiêm. Thờ cúng cha, thờ hai người mẹ, ba anh chị và ông bà. Mai Thị Nga, vợ Sáu mở mạng chỉ hàng chữ hiện trên màn hình: D3 - H12- M4, giải thích là Dãy 3, Hàng 12, Mộ số 4 - là mộ anh Huỳnh Quang Mãi. Nga nói thật lòng: Tâm nguyện của hai vợ chồng là dành tiền có dịp ra Phú Quốc nhận diện hình ngôi mộ và thắp cho anh Ba Mãi nén hương thơm.

H.D.L

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com